
Saptasārasvata-tīrtha-prasaṅgaḥ | The Saptasārasvata Pilgrimage Account and the Maṅkaṇaka Narrative
Upa-parva: Saptasārasvata–Maṅkaṇaka-ṛṣi Carita (Tīrtha-Māhātmya Episode)
Janamejaya requests clarification on (i) why the sacred place is called Saptasārasvata, and (ii) who Maṅkaṇaka is, including his lineage, learning, siddhi, and personal observances. Vaiśaṃpāyana first enumerates seven Sarasvatī forms—Suprabhā, Kāñcanākṣī, Viśālā (Mānasahradā), Sarasvatī (Oghavatī), Suveṇu, and Vimalodakā—describing how each is invoked by powerful ritualists at major sacrifices: Brahmā’s Puṣkara rite (Suprabhā), the Naimiṣa satra (Kāñcanākṣī), Gayā’s sacrifice (Viśālā), Auddālaka’s rite in northern Kosala (Manohradā epithet), Kuru’s Kurukṣetra sacrifice (Suveṇu), Vasiṣṭha’s invocation (Oghavatī), and rites at Gaṅgādvāra and a Haimavata setting (Vimalodā). The seven streams then unite at a single tīrtha, hence the name Saptasārasvata. The chapter next turns to Maṅkaṇaka’s biography in two compact exempla. First, while immersed in the river, he sees a woman bathing; his semen falls into the water, is collected into a pot, divided sevenfold, and results in seven beings associated with the Marut hosts (named with vāyu-compounds). Second, Maṅkaṇaka later attains siddhi; when his hand is cut by a blade of kuśa grass, plant-sap (śākarasa) flows, and in ecstatic delight he dances, causing both animate and inanimate beings to dance, overwhelmed by his radiance. The gods and sages petition Mahādeva to intervene. Śiva questions Maṅkaṇaka’s cause for joy, demonstrates superior wonder by striking his own thumb so that ash-like matter emerges, and Maṅkaṇaka, shamed, prostrates and praises Rudra’s supremacy. He requests that his tapas not “leak away”; Śiva grants increased tapas, vows to dwell with him in the āśrama, and declares a phala: worship at Saptasārasvata brings attainments here and hereafter, including access to a Sarasvata realm. The closing identifies Maṅkaṇaka as born of Sajanyā through Mātariśvan (Vāyu), anchoring his identity in a mythic genealogy.
Chapter Arc: वैशम्पायन जनमेजय से कहते हैं—युद्ध की धूल से दूर, हलधर बलराम सरस्वती-तट के तीर्थों की यात्रा में उदपान से चलकर ‘विनशन’ तीर्थ पहुँचते हैं, जहाँ का नाम ही विनाश और शुद्धि—दोनों का संकेत देता है। → तीर्थ-तीर्थ पर नियम, व्रत, उपवास और विधिवत् दान का क्रम चलता है—कहीं अप्सराएँ निरंतर उपस्थित हैं, कहीं वनस्पति-फल पर ही जीवन टिकाए तपस्वी (वालखिल्य आदि) कठोर साधना में रत हैं; और एक विचित्र आश्वासन भी मिलता है कि यहाँ ‘पन्नगों’ का भय नहीं—मानो प्रकृति स्वयं तीर्थ-धर्म की रक्षा कर रही हो। → सरस्वती के निकटवर्ती तट पर तपस्वियों का चरम संयम उभरता है—वे अन्न त्यागकर केवल उस विशेष वृक्ष के फल पर, व्रत-नियमों के साथ, समय-समय पर जीवन निर्वाह करते हैं; बलराम उन सबके बीच विधि से स्नान-दान कर, ऋषि-आज्ञा के अनुसार आचरण करते हुए तीर्थ-धर्म की पराकाष्ठा को साक्षात् देखते हैं। → बलराम दक्षिण सरस्वती-तट की ओर आगे बढ़ते हैं—भोग-सामग्री अर्पित कर, ब्राह्मणों को रत्न-संचय दान देकर, और प्रत्येक तीर्थ में नियमानुसार आचरण करते हुए यात्रा को क्रमशः पूर्णता की ओर ले जाते हैं। → कथा सत्ययुग के एक महान् बारह-वर्षीय सत्र (दीर्घ यज्ञ) की ओर मुड़ती है—अनेक ऋषि उस सत्र में एकत्र होते हैं, और आगे उसी प्राचीन अनुष्ठान का विस्तृत प्रसंग खुलने वाला है।
Verse 1
ऑपन--माजल छा जज सप्तत्रिशो5 ध्याय: विनशन
Vaiśampāyana nói: Rồi, tâu đại vương, Halāyudha (Balarāma) đi đến Vinaśana—nơi sông Sarasvatī biến mất—vì lòng chán ghét đối với các Śūdra và Ābhīra. Câu kệ đặt cuộc hành hương của ngài vừa là chuyến đi linh thiêng, vừa là sự rút lui mang sắc thái đạo lý khỏi xung đột xã hội, cho thấy những khuynh hướng nội tâm (như thù ghét) có thể đi kèm cả những hành vi bề ngoài tôn giáo.
Verse 2
तस्मात् तु ऋषयो नित्यं प्राहुर्विनशनेति च । वैशम्पायनजी कहते हैं--राजन! उदपानतीर्थसे चलकर हलधारी बलराम विनशनतीर्थमें आये, जहाँ (दुष्कर्मपरायण) शूद्रों और आभीरोंके प्रति द्वेष होनेसे सरस्वती नदी विनष्ट (अदृश्य) हो गयी है। इसीलिये ऋषिगण उसे सदा विनशनतीर्थ कहते हैं ।।
Vaiśampāyana nói: Vì thế các bậc hiền triết luôn gọi nơi ấy là “Vinaśana” (Chốn Biến Mất). Tại đó, Balarāma—đấng dũng lực phi thường—cũng làm lễ tẩy tịnh bằng cách chạm vào dòng nước Sarasvatī. Đoạn văn đặt địa điểm ấy như một lời cảnh tỉnh đạo lý: khi thù hằn và điều ác lấn át, ngay cả con sông thiêng cũng được nói là khuất khỏi tầm mắt, và tên gọi “Vinaśana” lưu giữ ký ức luân lý ấy.
Verse 3
तत्र चाप्सरस: शुभ्रा नित्यकालमतन्द्रिता:
Tại đó nữa, những Apsaras rực sáng cũng hiện diện—luôn tỉnh thức, không hề mỏi mệt trong mọi thời khắc—phụng sự và dõi theo quang cảnh với sự sẵn sàng không ngơi, khiến bầu không khí trang nghiêm, siêu phàm càng thêm đậm đặc khi câu chuyện chiến tranh tiếp diễn.
Verse 4
तत्र देवा: सगन्धर्वा मासि मासि जनेश्वर
Tại đó, hỡi bậc chúa tể loài người, các vị thần—cùng với các Gandharva—tháng này qua tháng khác đều đến viếng, khiến nơi ấy trở thành chốn thường xuyên được ghé thăm và được thánh hóa bởi sự hiện diện của cõi trời.
Verse 5
तत्रादृश्यन्त गन्धर्वास्तथैवाप्सरसां गणा:
Vaiśampāyana nói: Ở đó người ta thấy các Gandharva, và cũng thấy từng đoàn Apsara—những dấu hiệu của sự hiện diện cõi trời hiện ra giữa dòng biến cố, như nhắc rằng dẫu thế gian rung chuyển vì chiến tranh, các cảnh giới cao vẫn dõi theo và can dự theo trật tự của đạo lý vũ trụ.
Verse 6
तत्र मोदन्ति देवाश्ष॒ पितरक्षु सवीरुध:
Ở đó, chư thiên và các bậc tổ tiên (Pitṛ) hoan hỷ, cùng với mọi loài sinh trưởng—cỏ cây, thảo mộc—báo hiệu một cõi hay một dịp được xem là cát tường, nuôi dưỡng sự sống, nơi trật tự vũ trụ và trật tự tổ tiên đều được thỏa mãn.
Verse 7
आक्रीडभूमि: सा राजंस्तासामप्सरसां शुभा
Vaiśampāyana nói: “Tâu Đại vương, nơi chốn rực rỡ ấy chính là chốn vui chơi cát tường của các Apsara.”
Verse 8
तत्र स्नात्वा च दत्त्वा च वसु विप्राय माधव:
Tại đó, Mādhava (Balarāma) tắm gội thanh tịnh rồi bố thí của cải cho một vị Bà-la-môn; đoạn ngài tiếp tục tiến đến bến thánh (tīrtha) gắn với các Gandharva. Thế là con trai của Rohiṇī vẫn nối bước hành hương, tôn kính sự trong sạch và lòng quảng thí trước khi đi đến thánh địa kế tiếp.
Verse 9
श्रुत्वा गीत॑ च तद् दिव्यं वादित्राणां च नि:स्वनम् छायाश्व विपुला दृष्टवा देवगन्धर्वरक्षसाम्
Vaiśampāyana nói: Nghe khúc ca thiên giới ấy cùng tiếng vang ngân của nhạc khí, lại thấy những hình tướng to lớn, rờn rợn của chư Deva, các Gandharva và loài Rākṣasa, người chứng kiến bỗng cảm nhận như các sức mạnh siêu phàm đã tụ hội quanh chiến địa—một khoảnh khắc tựa điềm báo, làm tăng thêm sức nặng đạo lý của cuộc chiến và hậu quả của những lựa chọn đang được định đoạt.
Verse 10
विश्वावसुमुखास्तत्र गन्धर्वास्तपसान्विता:
Vaiśampāyana nói: Ở đó, các Gandharva—trong đó Viśvāvasu là bậc đứng đầu—đều hiện diện, đầy đủ uy lực khổ hạnh. Sự xuất hiện của họ như một chứng giám thiêng liêng từ cõi khác, nhắc người nghe rằng ngay giữa cuộc xung đột của loài người, vẫn có các bậc cao giới và sức mạnh của khổ hạnh kỷ luật làm thước đo cho đạo lý và trật tự vũ trụ.
Verse 11
तत्र दत्त्वा हलधरो विप्रेभ्यो विविधं वसु
Tại đó, Haladhara (Balarāma), sau khi ban cho các brāhmaṇa nhiều loại của cải, liền rời nơi ấy cùng với họ, trong khi Mādhava được cất lời tán dương. Cảnh ấy nêu bật đạo lý kính trọng bậc học giả làm khách bằng lễ vật và sự hiếu khách rộng rãi, và khắc họa cuộc ra đi của Balarāma giữa những lời chúc phúc và ca tụng của các brāhmaṇa đã mãn nguyện.
Verse 12
अजाविकं गोखरोष्ट्रं सुवर्ण रजतं तथा । भोजयित्वा द्विजान् कामै: संतर्प्प च महाधनै:
Vaiśampāyana nói: Sau khi bố thí cừu và dê, bò, lừa và lạc đà, lại cả vàng và bạc, ông liền khoản đãi các dvija (brāhmaṇa) theo đúng ý nguyện của họ và làm họ thỏa mãn bằng của cải lớn—một hành vi được nêu như sự hiếu khách xa hoa và việc tạo công đức nhờ bố thí rộng rãi.
Verse 13
तस्माद् गन्धर्वतीर्थाच्च महाबाहुररिंदम:
Rồi từ bến thiêng mang tên Gandharva-tīrtha, vị anh hùng cánh tay hùng mạnh, kẻ khuất phục quân thù, tiếp tục tiến bước—đánh dấu một đoạn chuyển trong hành trình từ nơi thánh địa này sang nơi thánh địa khác, nơi sự dịch chuyển được nhìn như có mục đích và kỷ luật, chứ không phải lang thang vô định.
Verse 14
तत्र गर्गेण वृद्धेन तपसा भावितात्मना
Vaiśampāyana nói: Tại đó, hỡi Janamejaya, hiền triết già Garga—tâm nội đã được thanh lọc và hun đúc bởi khổ hạnh—ở bến thiêng cát tường của sông Sarasvatī đã thấu hiểu tri thức về Thời gian và dòng vận hành của Thời gian, những đảo lộn và chuyển động bất thường của các hành tinh và chòm sao, các điềm dữ ghê gớm, cùng cả những dấu hiệu cát tường. Chính theo tên ngài mà thánh địa ấy được gọi là Gargasrota.
Verse 15
कालज्ञानगतिश्ैव ज्योतिषां च व्यतिक्रम: । उत्पाता दारुणाश्वैव शुभाश्न जनमेजय
Vaiśampāyana nói: “Hỡi Janamejaya, tại đó (ở bến tắm thiêng trên sông Sarasvatī), bậc đại hiền triết Garga tuổi cao—người có nội tâm đã được thanh tịnh nhờ khổ hạnh—đã thấu biết mọi điều: tri kiến về Thời (Kāla) và dòng vận hành của nó, những biến động bất thường của các thiên thể, các điềm dữ ghê gớm, và cả những dấu hiệu cát tường. Thánh địa ấy được gọi theo danh ngài là ‘Gargasrota’.”
Verse 16
सरस्वत्या: शुभे तीर्थे विदिता वै महात्मना । तस्य नाम्ना च तत् तीर्थ गर्गस्रोत इति स्मृतम्
Vaiśampāyana nói: “Hỡi Janamejaya, tại bến tắm thiêng cát tường của sông Sarasvatī, bậc đại hiền triết đã thấu biết nhiều điều kín nhiệm. Và thánh địa ấy được ghi nhớ chính theo danh ngài là ‘Gargasrota’—Dòng (hay Lưu) của Garga.”
Verse 17
तत्र गर्ग महाभागमृषय: सुव्रता नूप । उपासांचक्रिरे नित्यं कालज्ञानं प्रति प्रभो,सामर्थ्यशाली नरेश्वर! वहाँ उत्तम व्रतका पालन करनेवाले ऋषियोंने कालज्ञानके लिये सदा महाभाग गर्गमुनिकी उपासना (सेवा) की थी
Tại đó, hỡi đấng quân vương, các hiền sĩ giữ vững những giới nguyện thù thắng đã luôn luôn phụng sự bậc hiển thánh Garga, để cầu học tri kiến về Kāla—Thời gian.
Verse 18
तत्र गत्वा महाराज बल: श्वेतानुलेपन: । विधिवद्धि धन दत्त्वा मुनीनां भावितात्मनाम्
Vaiśampāyana nói: “Hỡi Đại vương, Bala (Balarāma), thân xoa đàn hương trắng, đã đến nơi ấy và theo đúng nghi lễ mà ban phát tài vật cho các bậc ẩn tu có tâm hồn thanh tịnh, đã tự rèn luyện.”
Verse 19
उच्चावचांस्तथा भक्ष्यान् विप्रेभ्यो विप्रदाय सः । नीलवासास्तदागच्छच्छड्खतीर्थ महायशा:
Vaiśampāyana nói: “Sau khi theo đúng phép mà dâng cho các bà-la-môn đủ loại thức ăn và mỹ vị, bậc danh tiếng lẫy lừng ấy—mặc y phục màu lam—liền lên đường đến Śaṅkha-tīrtha (Thánh địa Ốc).”
Verse 20
तत्रापश्यन्महाशड्खं महामेरुमिवोच्छितम् । श्वेतपर्वतसंकाशमृषिसंघैर्निषेवितम्
Tại đó, họ trông thấy một chiếc pháp loa vĩ đại, sừng sững như núi Meru—trắng như ngọn núi phủ tuyết, và được các đoàn tiên hiền (ṛṣi) vây quanh phụng sự.
Verse 21
यक्षा विद्याधराश्चैव राक्षसाक्षामितौजस:
Vaiśampāyana nói: Các Yakṣa, các Vidyādhara, và cả những Rakṣasa hùng mạnh với uy lực khôn lường cũng đều hiện diện ở đó.
Verse 22
ते सर्वे ह्ुशनं त्यक्त्वा फलं तस्य वनस्पते:
Vaiśampāyana nói: Tất cả bọn họ đều bỏ thứ thức ăn ấy, rồi lấy quả của cây đó mà dùng.
Verse 23
प्राप्तैश्न नियमैस्तैस्तैविचरन्त: पृथक् पृथक्
Vaiśampāyana nói: Sau khi thọ nhận những kỷ luật khác nhau, họ đi lại riêng rẽ, mỗi người theo đúng quy tắc hạnh kiểm mà mình đã chấp thuận. Ẩn mình khỏi mắt người phàm, họ lang thang trong thế gian; bởi vậy, thực thể kỳ diệu ấy (như một sự hiện diện nơi rừng thẳm) trở nên lừng danh khắp vũ trụ này.
Verse 24
अदृश्यमाना मनुजैर्व्यचरन् पुरुषर्षभ । एवं ख्यातो नरव्यापत्र लोके5स्मिन् स वनस्पति:
Họ đi lại mà người phàm không thể trông thấy, hỡi bậc trượng phu. Vì thế, hỡi dũng sĩ, cây ấy (vanaspati) trở nên lừng danh trong cõi đời này.
Verse 25
ततस्तीर्थ सरस्वत्या: पावन लोकविश्रुतम् । तस्मिंश्व॒ यदुशार्दूलो दत्त्वा तीर्थे पयस्विनी:
Vaiśampāyana nói: Rồi Ngài đến một bến tắm (tīrtha) linh thiêng của sông Sarasvatī, nổi danh khắp thế gian vì năng lực tẩy uế. Tại nơi ấy, Balarāma—bậc hùng dũng như hổ trong dòng Yadu—đã làm lễ bố thí ở thánh địa: dâng tặng những con bò cho sữa, lại biếu các bình khí bằng đồng và sắt, cùng đủ loại y phục cho các bà-la-môn. Sau khi kính lễ các bà-la-môn, chính Ngài cũng được các ẩn sĩ khổ hạnh tôn kính đáp lễ.
Verse 26
सुभूमिकं ततो5गच्छत् सरस्वत्यास्तटे वरे । महाबली बलराम वहाँ भी सरस्वतीमें आचमन और स्नान करके उसके सुन्दर तटपर स्थित हुए 'सुभूमिक' तीर्थमें गये
Rồi bậc đại lực Balarāma đi đến bến tắm linh thiêng mang tên Subhūmikā, trên bờ tuyệt đẹp của sông Sarasvatī. Tại đó, Ngài làm lễ ācamana và tắm trong dòng nước; đứng trên bờ xinh đẹp, Ngài tiến vào tīrtha nổi danh ấy. Ngài kính lễ những bậc “hai lần sinh” bằng các lễ vật: bình khí bằng đồng và sắt, cùng y phục đủ loại; và sau khi tỏ lòng tôn kính với các bà-la-môn, Ngài lại được các ẩn sĩ giàu công phu khổ hạnh tôn kính đáp lễ.
Verse 27
पुण्यं द्वैतवनं राजन्नाजगाम हलायुध: । तत्र गत्वा मुनीन् दृष्टवा नानावेषधरान् बल:
Vaiśampāyana nói: “Tâu Đại vương, Halāyudha (Balarāma) đã đến khu rừng thiêng Dvaitavana. Đến nơi, bậc dũng lực ấy trông thấy các hiền triết khoác mang nhiều dáng vẻ khác nhau.”
Verse 28
आप्लुत्य सलिले चापि पूजयामास वै द्विजान् | राजन! वहाँसे हलधर बलभद्रजी पवित्र द्वैतववनमें आये और वहाँके नाना वेशधारी मुनियोंका दर्शन करके जलमें गोता लगाकर उन्होंने ब्राह्मणोंका पूजन किया ।।
Vaiśampāyana nói: “Tâu Đại vương, từ đó Haladhara Balabhadra (Balarāma) đến khu rừng thiêng Dvaitavana. Thấy các hiền triết mang nhiều dáng vẻ khác nhau, Ngài lặn mình tắm trong nước rồi làm lễ tôn kính các bà-la-môn. Cũng vậy, Ngài ban cho các bà-la-môn học giả những vật dụng và lương thực dồi dào để thọ dụng.”
Verse 29
गत्वा चैवं महाबाहुर्नातिदूरे महायशा:
Vaiśampāyana nói: Tâu Đại vương, đi thêm chỉ một quãng ngắn, bậc dũng mãnh, lừng danh, chính trực là Balarāma đã đến bến tắm linh thiêng mang tên Nāgadhanvā. Nơi ấy có trú xứ của xà vương rực sáng Vāsuki, được vô số loài rắn bao quanh; và tại thánh địa ấy, người ta nói có mười bốn nghìn hiền sĩ cư ngụ thường hằng.
Verse 30
धर्मात्मा नागधन्वानं तीर्थमागमदच्युत: । यत्र पन्नगराजस्य वासुके: संनिवेशनम्
Vaiśampāyana nói: Bậc chính trực Acyuta (Balarāma) đã đến bến thiêng mang tên Nāgadhanvā, nơi tọa lạc cư xứ của Vāsuki, vua loài rắn. Ở đó, chúa tể nāga uy quang rực rỡ ngự giữa vô số nāga vây quanh; và nơi ấy luôn có mười bốn nghìn ṛṣi cư trú—một trung tâm linh thiêng và kỷ luật tu trì, dù câu chuyện chiến tranh bên ngoài đang cuộn trào.
Verse 31
महद्युतेर्महाराज बहुभि: पन्नगैर्वतम् । ऋषीणां हि सहस््राणि तत्र नित्यं चतुर्दश
Vaiśampāyana nói: Tâu Đại vương, cư xứ của bậc uy quang ấy được bao bọc bởi nhiều loài rắn. Quả thật, nơi đó luôn có mười bốn nghìn hiền triết (ṛṣi) cư trú. (Vì thế, chẳng bao xa, đức Balarāma—cánh tay hùng mạnh, danh tiếng rạng rỡ, lòng theo chính pháp—đã đến bến thiêng Nāgadhanvā, nơi ở của Vāsuki, vua rắn chói sáng, được vô số rắn vây quanh.)
Verse 32
यत्र देवा: समागम्य वासुकिं पन्नगोत्तमम् | सर्वपन्नगराजानमभ्यषिज्चन् यथाविधि,वहीं देवताओंने आकर सर्पोमें श्रेष्ठ वासुकिको समस्त सर्पोके राजाके पदपर विधिपूर्वक अभिषिक्त किया था
Vaiśaṃpāyana nói: “Chính tại nơi ấy, các chư thiên đã hội tụ và, theo đúng nghi lễ quy định, làm lễ quán đảnh tấn phong Vāsuki—bậc tối thượng trong loài rắn—làm đế vương tối cao trên mọi vua rắn.”
Verse 33
पन्नगेभ्यो भयं तत्र विद्यते न सम पौरव । तत्रापि विधिवद् दत्त्वा विप्रेभ्यो रत्नसंचयान्
Vaiśampāyana nói: “Hỡi hậu duệ nhà Puru, ở nơi ấy không hề có nỗi sợ nào từ loài rắn. Ngay tại bến thiêng đó, sau khi đúng nghi thức dâng tặng cho các Bà-la-môn những đống châu báu, Balarāma lên đường về phương Đông—nơi mỗi bước chân lại hiện ra vô số bến thiêng lừng danh, được nói là gần đến một trăm nghìn.”
Verse 34
प्रायात् प्राचीं दिशं तत्र तत्र तीर्थान्यनेकश: । सहस्रशतसंख्यानि प्रथितानि पदे पदे
Vaiśampāyana nói: Ngài tiến về phương Đông; và dọc đường, cứ mỗi bước chân lại hiện ra vô số bến thiêng—những nơi hành hương lừng danh, nhiều đến hàng trăm nghìn, hỡi hậu duệ nhà Puru.
Verse 35
आपपलुत्य तत्र तीर्थेषु यथोक्तं तत्र चर्षिभि: | कृत्वोपवासनियमं दत्त्वा दानानि सर्वश:
Tắm gội tại các bến thiêng (tīrtha) ở đó đúng như các bậc hiền triết đã chỉ dạy, họ nhận lấy kỷ luật khổ hạnh—giữ giới, nhịn ăn—và bằng mọi cách bố thí rộng rãi. Đoạn này nêu rõ khuôn mẫu đạo đức của cuộc hành hương: thanh tịnh nhờ tắm gội, tự chế nhờ lời nguyện, và viên mãn công đức nhờ sự bố thí hào phóng.
Verse 36
इस प्रकार श्रीमह्ा भारत शल्यपववके अन्तर्गत गदापबव॑नें बलदेवजीकी तीरथ्थयात्राके प्रसंगमें त्रितका उपाख्यानविषयक छत्तीसवाँ अध्याय पूरा हुआ
Vaiśaṃpāyana nói: Ở bến thiêng ấy, các thiên nữ Apsarā mặt rạng ngời luôn vui đùa bằng muôn trò thanh khiết, duyên dáng, đã gạt bỏ mọi uể oải. Rồi sau khi cung kính đảnh lễ các bậc hiền triết cư trú tại tīrtha ấy, ông theo con đường được chỉ định mà đi tiếp, đến nơi lại gặp dòng Sarasvatī. Đoạn này nhấn mạnh sức thanh tẩy của hành hương: kính trọng các ẩn sĩ và bước đi có kỷ luật theo lộ trình đã định là khuôn phép đạo đức để thưởng ngoạn vẻ đẹp linh thiêng mà không rơi vào sự buông thả.
Verse 37
प्राडुमुखं वै निववृते वृष्टिवाततहता यथा । उन तीर्थोंमें स्नान करके उन्होंने ऋषियोंके बताये अनुसार व्रत-उपवास आदि नियमोंका पालन किया। फिर सब प्रकारके दान करके तीर्थनिवासी मुनियोंको मस्तक नवाकर उनके बताये हुए मार्गसे वे पुन: उस स्थानकी ओर चल दिये
Vaiśampāyana nói: Dòng Sarasvatī như bị mưa gió quật ngược, lại quay về hướng đông. Sau khi tắm ở các bến thiêng, Balarāma giữ trọn những kỷ luật các bậc hiền triết đã dạy—lời nguyện, nhịn ăn và tự chế. Rồi bố thí đủ mọi thứ, cúi đầu trước các ẩn sĩ cư trú tại các tīrtha, ngài lại lên đường theo lối họ chỉ, trở về nơi Sarasvatī uốn mình về phía đông như cơn mưa bị bão xô dạt. Mong được diện kiến các đại hiền triết ở Naimiṣa, ngài trông thấy con sông đứng đầu muôn dòng và bừng dậy niềm kinh ngạc—Balarāma, người mang lưỡi cày, thân xức đàn hương trắng—thấm đẫm lòng tôn kính đối với thánh địa và sự dẫn dắt của người công chính.
Verse 38
निवृत्तां तां सरिच्छेष्ठां तत्र दृष्टवा तु लाड़ली । बभूव विस्मितो राजन् बल: श्वेतानुलेपन:
Vaiśampāyana nói: Tâu Đại vương, khi Balarāma—thân xức đàn hương trắng—trông thấy tại đó Sarasvatī, bậc nhất trong các dòng sông, đã quay về hướng đông để ban cuộc diện kiến cho các đại hiền triết ở Naimiṣāraṇya, ngài bỗng sững sờ kinh ngạc. Cảnh ấy nêu bật lòng tôn kính thánh địa và sức mạnh công đức của khổ hạnh: ngay cả thiên nhiên cũng được miêu tả như đáp lại sự hiện diện và uy lực tinh thần của các ṛṣi.
Verse 39
जनमेजय उवाच कस्मात् सरस्वती ब्रद्यान् निवृत्ता प्राडमुखी भवत् । व्याख्यातमेतदिच्छामि सर्वमध्वर्युसत्तम
Janamejaya nói: “Vì cớ gì sông Sarasvatī đang chảy xiết lại quay ngược, hướng mặt về phía đông? Hỡi bậc thượng thủ trong hàng tư tế chủ lễ, ta muốn được nghe giải bày trọn vẹn việc này.”
Verse 40
कम्मिंश्चित् कारणे तत्र विस्मितो यदुनन्दन: । निवृत्ता हेतुना केन कथमेव सरिद्वरा
Vua Janamejaya hỏi: “Vì cớ gì Yadunandana (Balarāma) ở đó lại kinh ngạc? Do nguyên nhân nào mà con sông thượng hạng ấy ngừng chảy, và việc ấy đã xảy ra như thế nào?”
Verse 41
जनमेजयने पूछा--यजुर्वेदके ज्ञाताओंमें श्रेष्ठ विप्रवर! मैं आपके मुँहसे यह सुनना चाहता हूँ कि सरस्वती नदी किस कारणसे पीछे लौटकर पूर्वाभिमुख बहने लगी? क्या कारण था कि वहाँ यदुनन्दन बलरामजीको भी आश्चर्य हुआ? सरिताओंमें श्रेष्ठ सरस्वती किस कारणसे और किस प्रकार पूर्वदिशाकी ओर लौटी थीं? ।।
Janamejaya thưa hỏi: “Bạch vị Bà-la-môn tối thượng, bậc tinh thông Yajurveda! Trẫm muốn chính miệng ngài nói cho nghe: vì sao sông Sarasvatī lại quay trở lại và chảy theo hướng đông? Vì cớ gì ngay cả Yadunandana, đức Balarāma, cũng kinh ngạc tại đó? Con sông tối thắng trong các dòng sông ấy đã vì nguyên do nào và bằng cách nào mà ngoảnh về phương đông?” Vaiśampāyana đáp: “Thuở xưa, trong thời Kṛta, tâu Đại vương, các ẩn sĩ ở Naimiṣa, khi đang cử hành một kỳ tế lễ rộng lớn kéo dài mười hai năm…”
Verse 42
उषित्वा च महाभागास्तस्मिन् सत्रे यथाविधि
Và những bậc cao quý ấy đã lưu lại trong kỳ tế lễ ấy đúng theo pháp thức, cử hành nghi lễ một cách trang nghiêm như truyền thống và giới luật đã định.
Verse 43
निवत्ते नैमिषेये वै सत्रे द्वादशवार्षिके । आज ममुर्ऋयस्तत्र बहवस्तीर्थकारणात्
Vaiśampāyana nói: “Khi kỳ tế lễ mười hai năm ở Naimiṣa đã mãn, nhiều bậc hiền triết kéo đến nơi ấy vì sự linh thiêng của thánh địa.”
Verse 44
नैमिषारण्यवासियोंके उस द्वादशवर्षीय यज्ञमें वे महाभाग ऋषि दीर्घकालतक रहे। जब वह यज्ञ समाप्त हो गया तब बहुत-से महर्षि तीर्थसेवनके लिये वहाँ आये ।।
Vaiśampāyana nói: “Tâu Chúa tể muôn dân, vì các bậc hiền triết tụ hội quá đông, nên bấy giờ mọi bến thánh dọc bờ nam sông Sarasvatī đều trông như những thị trấn—chật kín ẩn sĩ, nghi lễ và nhịp bước hành hương sau đại tế.”
Verse 45
समन्तपजञ्चकं यावत्तावत्ते द्विजसत्तमा: । तीर्थलोभान्नरव्याप्र नद्यास्तीरं समाश्रिता:
Vaiśampāyana nói: “Hỡi bậc hùng dũng như hổ giữa loài người, vùng đất mang tên Samantapañcaka trải dài đến đâu, thì các bậc tối thượng trong hàng ‘nhị sinh’ cũng theo đến đó; vì lòng ham cầu các bến tắm thiêng (tīrtha), họ nương trú dọc theo bờ sông.”
Verse 46
अभिगच्छन्ति तत् तीर्थ पुण्यं ब्राह्मणसेवितम् । जनेश्वर! वहाँ उस ब्राह्मणसेवित पुण्यतीर्थमें गन्धरवॉसहित देवता भी प्रतिमास आया करते हैं,पुरुषसिंह! तीर्थसेवनके लोभसे वे ब्रह्मर्षिणण समन्तपंचक तीर्थतक सरस्वती नदीके तटपर ठहर गये ।।
Vaiśampāyana nói: “Hỡi chúa tể nhân gian, họ tìm đến bến thiêng ấy—một tīrtha thanh tịnh, được các Bà-la-môn phụng sự và làm cho thêm linh thánh. Tại nơi thánh địa được tôn kính bởi Bà-la-môn ấy, hỡi sư tử giữa loài người, ngay cả chư thiên—cùng các Gandharva—cũng tháng tháng đều đến. Vì ham cầu công đức của việc hành hương tīrtha, các bậc brahmarṣi ấy đã dừng chân trên bờ sông Sarasvatī, tại tīrtha mang tên Samantapañcaka. Và khi những hiền triết tâm đã được luyện tịnh ấy cử hành nghi lễ, tiếng tụng đọc Veda (svādhyāya) hùng tráng, thâm trầm của họ làm vang dội khắp mười phương.”
Verse 47
अन्निहोत्रैस्ततस्तेषां क्रियमाणैर्महात्मनाम् । अशोभत सरिच्छेष्ठा दीप्यमानै: समन्तत:,चारों ओर प्रकाशित हुए उन महात्माओंद्वारा किये जानेवाले यज्ञसे सरिताओंमें श्रेष्ठ सरस्वतीकी बड़ी शोभा हो रही थी
Vaiśampāyana nói: Rồi khi những bậc đại hồn ấy cử hành lễ agnihotra, sông Sarasvatī—bậc nhất trong các dòng sông—bỗng rực rỡ hơn bội phần, bốn phía đều được soi sáng bởi những ngọn lửa tế lễ đang bùng cháy.
Verse 48
वालखिल्या महाराज अभ्मकुद्टाश्न तापसा: | दन्तोलूखलिन श्चान्ये प्रसंख्यानास्तथा परे
Vaiśampāyana nói: “Hỡi Đại vương, nơi ấy có các bậc khổ hạnh—những hiền triết lừng danh như Vālakhilya, Abhramakuṭṭa, cùng những vị khác gọi là Dantolūkhalin; lại có những vị khác mang danh Prasaṅkhyāna. Bằng các lời nguyện nghiêm khắc và nếp sống kỷ luật, họ làm rạng rỡ miền đất thiêng bên Sarasvatī, nêu lên lý tưởng rằng tự chế và khổ hạnh khiến thánh địa thêm huy hoàng.”
Verse 49
वायुभक्षा जलाहारा: पर्णभक्षाश्न॒ तापसा: । नानानियमयुक्ताश्व तथा स्थण्डिलशायिन:
Vaiśampāyana nói: Có những khổ hạnh giả sống bằng khí, có người chỉ nương vào nước, có người chỉ ăn lá. Giữ đủ mọi giới nguyện và kỷ luật, có vị còn nằm ngủ trên nền đất trơ. Vì thế, trên bờ Sarasvatī, các hiền triết lừng danh ấy—nhờ khổ hạnh và tự chế—làm tăng thêm sự linh thiêng và vẻ huy hoàng của dòng sông bậc nhất, khiến bờ sông trở thành một tòa ngự của dharma và của nghệ thuật thắng mình.
Verse 50
आसन वै मुनयस्तत्र सरस्वत्या: समीपत: । शोभयन्त: सरिच्छेष्ठां गड्जामिव दिवौकस:
Vaiśampāyana nói: “Tâu Đại vương, tại đó có các bậc hiền triết ngồi trên bờ gần sông Sarasvatī. Nhờ sự hiện diện của họ, dòng sông bậc nhất ấy càng thêm rạng rỡ, như chư thiên nơi cõi trời làm đẹp sông Gaṅgā vậy.”
Verse 51
शतशकश्च समापेतुरऋषषय: सत्रयाजिन: । तेडवकाशं न ददृशु: सरस्वत्या महाव्रता:,सत्रयागमें सम्मिलित हुए सैकड़ों महान् व्रतधारी ऋषि वहाँ आये थे; परंतु उन्होंने सरस्वतीके तटपर अपने रहनेके लिये स्थान नहीं देखा
Vaiśampāyana nói: “Hàng trăm đại hiền giả, kiên định trong giới nguyện và đang dự các kỳ tế lễ dài ngày (satra), đã tụ hội về đó; nhưng trên bờ sông Sarasvatī, họ không tìm thấy một chỗ trống nào để lưu trú.”
Verse 52
ततो यज्ञोपवीतैस्ते तत्तीर्थ निर्मिमाय वै | जुह॒वुश्चाग्निहात्रांश्व चक्रुश्न विविधा: क्रिया:
Rồi họ dùng dây thánh (yajñopavīta) mà lập nên bến thánh (tīrtha) ấy đúng phép. Tại đó, họ dâng các lễ phẩm theo nghi thức Agnihotra và thực hành nhiều nghi lễ khác nhau.
Verse 53
समेत्य सहिता राजन् यथाप्राप्तं यथासुखम् । राजन! गन्धर्वगण और अप्सराएँ एक साथ मिलकर वहाँ आती और सुखपूर्वक विचरण करती दिखायी देती हैं
Vaiśampāyana nói: “Tâu Đại vương, các đoàn Gandharva và Apsaras được thấy cùng nhau đến đó và thong dong dạo bước, mỗi người theo phần số và niềm vui của mình. Rồi, thấy hội chúng hiền giả ấy đang nản lòng và nặng trĩu ưu tư, nữ thần sông Sarasvatī—tâu bậc vương giả tối thượng—đã hiện thân trực tiếp trước họ, để giúp họ thành tựu điều mong cầu.”
Verse 54
ततः कुण्जान् बहून् कृत्वा संनिवृत्ता सरस्वती । ऋषीणां पुण्यतपसां कारुण्याज्जनमेजय
Rồi, tâu Janamejaya, sông Sarasvatī tạo nên nhiều lùm cây và bụi rậm, rồi quay dòng trở lại, vì lòng từ mẫn khởi lên đối với các bậc hiền giả có khổ hạnh thanh tịnh và công đức lớn lao.
Verse 55
ततो निवृत्य राजेन्द्र तेषामर्थे सरस्वती । भूय: प्रतीच्यभिमुखी प्रसुस्राव सरिद्वरा,राजेन्द्र! उनके लिये लौटकर सरिताओंमें श्रेष्ठ सरस्वती पुनः पश्चिमकी ओर मुड़कर बहने लगीं
Bấy giờ, tâu Đại vương, vì lợi ích của họ, sông Sarasvatī—bậc nhất trong các dòng sông—đã quay dòng trở lại và lại chảy về hướng tây.
Verse 56
अमोघागमन कृत्वा तेषां भूयो व्रजाम्पहम् । इत्यद्भुतं महच्चक्रे तदा राजन् महानदी
Vaiśampāyana nói: “Ta sẽ làm cho cuộc đến của các bậc hiền triết ấy được viên mãn, rồi lại trở về.” Với quyết tâm ấy, tâu Đại vương, dòng đại hà khi ấy đã thực hiện một kỳ công lớn lao và nhiệm mầu.
Verse 57
एवं स कुण्जो राजन् वै नैमिषीय इति स्मृतः । कुरुश्रेष्ठ कुरुक्षेत्रे कुरुष्व महतीं क्रियाम्,नरेश्वर! इस प्रकार वह कुंज नैमिषीय नामसे प्रसिद्ध हुआ। कुरुश्रेष्ठ! तुम भी कुरुक्षेत्रमें महान् कर्म करो
Vaiśaṃpāyana nói: “Vì thế, tâu Đại vương, khu lâm viên ấy được ghi nhớ với tên ‘Naimiṣīya’. Hỡi bậc tối thượng trong dòng Kuru, hỡi chúa tể loài người—ngài cũng hãy cử hành một nghi lễ trọng đại và trang nghiêm tại Kurukṣetra.”
Verse 58
तत्र कुज्जान् बहून् दृष्टवा निवृत्तां च सरस्वतीम् । बभूव विस्मयस्तत्र रामस्याथ महात्मन:,वहाँ बहुत-से कुंजों तथा लौटी हुई सरस्वतीका दर्शन करके महात्मा बलरामजीको बड़ा विस्मय हुआ
Tại đó, khi thấy nhiều bụi rậm và dòng Sarasvatī đã quay ngược khỏi lộ trình của mình, bậc đại hồn Rāma (Balarāma) tràn ngập kinh ngạc.
Verse 59
उपस्पृश्य तु तत्रापि विधिवद् यदुनन्दन: । दत्त्वा दायान् द्विजातिभ्यो भाण्डानि विविधानि च
Vaiśaṃpāyana nói: Tại đó nữa, Yadunandana (Balarāma), sau khi thực hiện nghi thức tẩy tịnh và súc miệng theo đúng phép, đã ban tặng cho các bậc “nhị sinh” của cải và đủ loại đồ dùng, khí cụ.
Verse 60
भक्ष्यं भोज्यं च विविध ब्राह्मणेभ्य: प्रदाय च । ततः प्रायाद् बलो राजन् पूज्यमानो द्विजातिभि:
Vaiśampāyana said: Having presented the Brahmins with various kinds of foods—both edibles and prepared dishes—Balarāma then departed, O king, honored and reverently received by the twice-born. The scene underscores the ethic of hospitality and gift-giving (dāna) as a dharmic act performed even amid the larger turmoil of war.
Verse 61
सरस्वतीतीर्थवरं नानाद्विजगणायुतम् । बदरेड्गुदकाश्मर्यप्लक्षाश्व॒त्थविभीतकै:
Vaiśampāyana said: Thereafter Baladeva, wielder of the plough-weapon, came to the sacred ford named Saptasārasvata, the most excellent among the tīrthas of the Sarasvatī. It was thronged with multitudes of Brahmins and beautified by many kinds of trees—jujube, inguda, kāśmarya, plakṣa, aśvattha, and vibhītaka—making the place delightful to behold and conducive to a life of non-violence, study, and austerity.
Verse 62
कड्कोलैश्न पलाशैश्व करीरै: पीलुभिस्तथा । सरस्वतीतीर्थरुहैस्तरुभिविविधैस्तथा
Vaiśampāyana said: That sacred region on the Sarasvatī was adorned with many kinds of trees—kankola, palāśa, karīra, and pīlu, along with diverse trees growing around the river’s fords. Thereafter Baladeva, the wielder of the plough, arrived at the tīrtha called Saptasārasvata, regarded as the foremost among the Sarasvatī’s holy places. Many communities of brāhmaṇas dwelt there. The place was charming to behold and captivating to the mind, beautified by groves and varied vegetation along the riverbank. Numerous forest-dwelling ascetics lived there—subsisting on air, water, fruits, and leaves, chewing what they ate, using their teeth as a mortar, and eating fruits cracked open on stones. The deep sound of Vedic recitation resounded, herds of deer spread in every direction, and people devoted to non-violence and dharma frequented the tīrtha. It was there that the accomplished great sage Maṅkaṇaka had performed severe austerities.
Verse 63
पुण्यै: पुष्पै: सदा दिव्यै: कीर्यमाणा: पुन: पुनः । वहाँ देवता और पितर लता-वेलोंके साथ आमोदित होते हैं
Vaiśampāyana said: There, again and again, a shower of holy, celestial flowers is continually strewn. In that sacred place the gods and the ancestors rejoice amid creepers and vines, while pure divine blossoms keep raining down upon them. The tīrtha is adorned with excellent karūṣaka trees, bilva trees, āmrātaka (hog-plum) trees, groves of atimuktaka, and pārijāta trees—making it charming to behold and deeply alluring to the mind.
Verse 64
कदलीवनभूयिष्ठ दृष्टिकान्तं मनोहरम् । वाय्वम्बुनफलपणदिर्दन्तोलूखलिकैरपि
Vaiśampāyana said: That sacred place was exceedingly charming to behold and captivating to the mind, abounding in groves of banana trees. It was thronged with forest-dwelling ascetics who lived on what the place itself offered—air, water, fruits, and leaves—some even using their teeth as a mortar, and eating fruits split open on stones. In the wake of this description, the narrative situates Baladeva (Halāyudha) arriving at the foremost of Sarasvatī’s holy fords, Saptasārasvata, a serene, non-violent refuge where Vedic recitation resounded, herds of deer ranged freely, and dharma-minded people practiced restraint and pilgrimage; it was also famed as a site of severe austerities performed by the siddha sage Maṅkaṇaka.
Verse 65
तथाश्मकुट्टैवनियैर्मुनिभिर्बहुभिववतम् । स्वाध्यायघोषसंघुष्ट मृगयूथशताकुलम्
Vaiśampāyana said: That sacred ford was thronged with many sages who lived by pounding and cracking fruits with stones; it resounded with the deep chant of Vedic recitation and was crowded with hundreds of herds of deer. After this, Halāyudha Baladeva came to the tīrtha called Saptasārasvata, regarded as the foremost among the holy places of the Sarasvatī. There dwelt great assemblies of brāhmaṇas. The place was charming to behold and captivating to the mind, adorned with many kinds of trees growing along the Sarasvatī’s bank—vera, iṅguda, kāśmarya (gambhārī), pākara, pippala, bibhitaka, kaṅkola, palāśa, karīra, pīlu, karūṣa, bilva, āmrāṭaka, atimukta, pārijāta, and others—and it held many groves of banana plants. It was filled with numerous vānaprastha sages who lived on air, water, fruits, and leaves, who used their teeth as a mortar, and who ate fruits split open by stones. The grave sound of Vedic study echoed there; deer-herds spread in every direction. People devoted to a non-violent, righteous way of life frequented that tīrtha greatly. In that very place the accomplished great sage Maṅkaṇaka had performed a mighty austerity.
Verse 66
अहिंस्र्थर्मपरमैर्नुभिरत्यर्थसेवितम् । सप्तसारस्वतं तीर्थमभाजगाम हलायुध:
Vaiśampāyana said: Balarāma, the wielder of the plough-weapon, then came to the sacred ford called Sapta-Sārasvata, a place much frequented by people devoted to the dharma of non-violence. The verse frames the tīrtha as a moral refuge—honoured and sought out by those who uphold ahiṃsā—setting a contrast to the surrounding atmosphere of war and conflict in the wider narrative.
Verse 67
यत्र मड़कणक: सिद्धस्तपस्तेपे महामुनि:
Vaiśampāyana said: In that place the accomplished great sage Maṅkaṇaka had performed severe austerities. After that, Halāyudha Baladeva came to the sacred ford called Saptasārasvata, regarded as the foremost among the holy places of the Sarasvatī. There lived many communities of brāhmaṇas. The tīrtha was adorned with diverse trees—vera, iṅguda, kāśmarya (gambhārī), pākara, pippala, baheḍā, kaṅkola, palāśa, karīra, pīlu, karūṣa, bilva, āmaḍā, atimukta, pārijāta, and many others growing along the Sarasvatī’s bank—making it delightful to behold and captivating to the mind. It had many banana groves. It was filled with numerous forest-dwelling sages who lived on air, water, fruits, and chewed leaves; who used their teeth as a mortar; and who ate fruits split open with stones. The deep sound of Vedic recitation resounded there. Herds of deer spread out in every direction. People devoted to the non-violent dharma frequented that holy place. It was there that the perfected sage Maṅkaṇaka had undertaken great penance.
Verse 73
सुभूमिकेति विख्याता सरस्वत्यास्तटे वरे । राजन्! सरस्वतीके सुन्दर तटपर वह उन अप्सराओंकी मंगलमयी क्रीडाभूमि है, इसलिये वह स्थान सुभूमिक नामसे विख्यात है
Vaiśampāyana said: “O King, on the excellent bank of the river Sarasvatī there is a place renowned by the name Subhūmikā—so called because it is a beautiful, auspicious playground of the Apsarases.”
Verse 96
गन्धर्वाणां ततस्तीर्थमागच्छद् रोहिणीसुत: । बलरामजीने वहाँ स्नान करके ब्राह्मणोंको धन दान किया और दिव्य गीत एवं दिव्य वाद्योंकी ध्वनि सुनकर देवताओं
Vaiśampāyana said: Thereafter, Rohiṇī’s son (Balarāma) came to the sacred ford associated with the Gandharvas. Having bathed there, he honored the brāhmaṇas with gifts of wealth; and, hearing celestial songs and the sound of divine instruments, he beheld many wondrous forms connected with the gods, Gandharvas, and Rākṣasas. Then Rohiṇīnandana Balarāma proceeded onward to the Gandharva-tīrtha.
Verse 103
नृत्यवादित्रगीतं च कुर्वन्ति सुमनोरमम् । वहाँ तपस्यामें लगे हुए विश्वावसु आदि गन्धर्व अत्यन्त मनोरम नृत्य, वाद्य और गीतका आयोजन करते रहते हैं
Vaiśampāyana nói: Ở nơi ấy, các Gandharva—như Viśvāvasu—đang chuyên cần khổ hạnh, vẫn không ngừng bày dựng những điệu múa, tiếng nhạc khí và lời ca tuyệt mỹ, khiến giữa kỷ luật tu trì vẫn lan tỏa một niềm hoan lạc tinh nhã và thanh khiết.
Verse 123
प्रययौ सहितो विप्रैः स्तूयमानश्च॒ माधव: । हलधरने वहाँ भी ब्राह्मणोंको भेड़
Vaiśampāyana nói: Mādhava (Balarāma) lên đường, có các bà-la-môn đi cùng và không ngớt lời tán dương. Haladhara tại đó đã ban cho họ đủ thứ của cải—cừu, dê, bò, lừa, lạc đà, cùng vàng bạc—lại cho ăn uống theo ý muốn; rồi làm họ thỏa lòng bằng sự bố thí dồi dào và cùng các bà-la-môn rời đi. Khi ấy, các bà-la-môn ca ngợi Balarāma hết mực.
Verse 136
गर्गस्रोतो महातीर्थभाजगामैककुण्डली । उस गन्धर्वतीर्थसी चलकर एक कानमें कुण्डल धारण करनेवाले शत्रुदमन महाबाहु बलराम गर्गस्रोत नामक महातीर्थमें आये
Vaiśampāyana nói: Balarāma, bậc đại lực, tay dài, kẻ khuất phục quân thù, đeo một chiếc khuyên ở một bên tai, rời khỏi tirtha của Gandharva và đến đại thánh địa mang tên Gargasrota.
Verse 206
सरस्वत्यास्तटे जातं नगं तालध्वजो बली । वहाँ तालचिह्वलित ध्वजावाले बलवान् बलरामने महाशंख नामक एक वृक्ष देखा
Vaiśampāyana nói: Trên bờ sông Sarasvatī, Balarāma hùng mạnh, phất ngọn cờ mang dấu cây tala, trông thấy một cây mang tên Mahāśaṅkha, cao như núi Meru và rực sáng như núi Śvetācala. Dưới gốc cây ấy, các nhóm hiền sĩ cư trú. Cây ấy chính sinh ra ngay trên bờ Sarasvatī.
Verse 216
पिशाचाश्लामितबला यत्र सिद्धा: सहस्रश: । उस वृक्षके आस-पास यक्ष, विद्याधर, अमित तेजस्वी राक्षस, अनन्त बलशाली पिशाच तथा सिद्धगण सहस्रोंकी संख्यामें निवास करते थे
Vaiśampāyana nói: Chung quanh cây ấy cư ngụ hàng nghìn Siddha, cùng với Yakṣa và Vidyādhara, các Rākṣasa rực rỡ không thể lường, và những Piśāca có sức mạnh vô tận.
Verse 223
व्रतैश्न नियमैश्वनैव काले काले सम भुज्जते | वे सब-के-सब अन्न छोड़कर व्रत और नियमोंका पालन करते हुए समय-समयपर उस वृक्षका ही फल खाया करते थे
Vaiśampāyana nói: Giữ gìn các lời thệ nguyện và kỷ luật tu hành, họ đến đúng thời khắc thì dùng bữa một cách chừng mực, có quy củ. Từ bỏ mọi thứ lương thực thường ngày và ngũ cốc, họ nương theo giới hạnh khổ hạnh mà chỉ sống bằng trái của chính cây ấy.
Verse 283
ततः प्रायाद् बलो राजन् दक्षिणेन सरस्वतीम् । राजन! इसी प्रकार विदप्रवृन्दको प्रचुर भोगसामग्री अर्पित करके फिर बलरामजी सरस्वतीके दक्षिण तटपर होकर यात्रा करने लगे
Rồi, tâu Đại vương, Bala-rāma lên đường, tiến bước dọc theo bờ nam sông Sarasvatī. Được tôn kính tiếp đãi đúng lễ, lại nhận dâng cúng dồi dào lễ vật và lương thực, Ngài tiếp tục cuộc hành hương, đi tới trong nề nếp và điềm lành.
Verse 416
ऋषयो बहवो राजंस्तत् सत्रमभिपेदिरे | वैशम्पायनजीने कहा--राजन्! पूर्वकालके सत्ययुगकी बात है वहाँ बारह वर्षोमें पूर्ण होनेवाले एक महान् यज्ञका अनुष्ठान आरम्भ किया गया था। उस सत्रमें नैमिषारण्यनिवासी तपस्वी मुनि तथा अन्य बहुतसे ऋषि पधारे थे
Vaiśampāyana nói: “Tâu Đại vương, nhiều bậc hiền triết đã đến và tụ hội trong kỳ tế lễ dài ngày (satra) ấy.” Câu ấy dựng nên cảnh tượng một công cuộc tôn giáo tập thể, nghiêm cẩn và có quy củ, nơi các ẩn sĩ uyên bác cùng nhau nhóm họp để gìn giữ trật tự thiêng liêng bằng một nghi lễ lâu dài, được điều định chặt chẽ.
The tension is between inner spiritual attainment and outward self-control: delight in a minor sign of power leads to cosmic disturbance, showing that siddhi without humility risks disorder and requires correction.
The upadeśa is that ascetic power is not self-justifying; it must be subordinated to discernment and reverence for a higher order, with humility serving as the safeguard against pride and fascination.
Yes. Mahādeva states that one who worships him at Saptasārasvata will find nothing difficult to obtain in this world or the next and will attain a Sarasvata realm, framing the site’s ritual efficacy.
Read Mahabharata in the Vedapath app
Scan the QR code to open this directly in the app, with audio, word-by-word meanings, and more.