Adhyaya 84
Anushasana ParvaAdhyaya 8450 Verses

Adhyaya 84

Chapter 84: Brahmā’s Counsel on Tāraka, the Search for Agni, and the Genesis of Skanda (Kārttikeya)

Upa-parva: Agni–Gaṅgā–Skanda (Tārakavadha-upāya) Narrative Unit

The gods petition Brahmā to address the asura Tāraka, empowered by a boon and afflicting devas and ṛṣis. Brahmā affirms impartiality yet rejects adharma, declaring Tāraka’s destruction necessary for the preservation of Veda and dharma, and reveals a prior arrangement: Agni will generate an offspring capable of slaying the enemy despite constraints created by Rudrāṇī’s curse that deprives the gods of progeny. The devas and sages search the three worlds for the concealed Agni. A frog from Rasātala discloses Agni’s watery concealment; Agni curses the frog’s taste (rasa) and the gods grant compensatory boons (vocalization, nocturnal movement, earth’s support). An elephant indicates Agni’s presence in an aśvattha; Agni curses elephants with an adverse tongue, then hides in the śamī. A parrot reveals this; Agni curses it with impaired speech, mitigated by the gods into a sweet but indistinct voice. The gods establish the śamī as a sacred locus for fire-production. Agni agrees to their request and proceeds to Gaṅgā, producing a tejas-laden embryo. Overwhelmed, Gaṅgā releases it on Meru; the embryo’s radiance transforms surrounding matter into gold (jātarūpa), and the child grows in a divine reed-bed, nurtured by the Kṛttikās, becoming Skanda/Kārttikeya/Guhā. The chapter concludes with an explicit valuation of gold as supremely purifying and auspicious, described as Agni–Soma in essence.

Chapter Arc: Yudhishthira, ever hungry for the surest purifier, asks of that which is most pavitra among all gifts—what act lifts a mortal beyond stain and fear. → Bhishma answers with sweeping certainty: nothing surpasses the cow in sanctity and benefit. The narration gathers force—cows sustain sacrifice through havis, nourish through milk, uphold prosperity, and become a bridge for humans across peril. → Veda-Vyasa’s voice crowns the teaching: cows are the very ‘pratishtha’ and ‘parayana’ of beings; their forms and wondrous horns appear as if shaped by desire itself, and the giver of cows attains the radiant, flower-and-fruit-laden realm of cows—Goloka—deemed difficult even for gods. → The chapter seals the promise of Go-dana with exemplars—kings famed for gifting lakhs of cows (Mandhata, Nahusha, Yayati and others) who reached the supreme station. The listener is left with a clear ladder of merit: reverence for cows, gifting with faith, and ascent to blessed worlds. → The discourse implies further gradations—how, when, and with what intention gifts should be made—inviting the next instruction in the chain of Danadharma.

Shlokas

Verse 1

ऑपन-माज बक। अत एकाशीतितमो<ध्याय: गौओंका माहात्म्य तथा व्यासजीके द्वारा शुकदेवसे गौओंकी, गोलोककी और गोदानकी महत्ताका वर्णन युधिछिर उवाच पवित्राणां पवित्र यच्छिष्टं लोके च यद्‌ भवेत्‌ । पावन परमं चैव तनमे ब्रूहि पितामह,युधिष्ठिरने कहा--पितामह! संसारमें जो वस्तु पवित्रोंमें भी पवित्र तथा लोकमें पवित्र कहकर अनुमोदित एवं परम पावन हो, उसका मुझसे वर्णन कीजिये

Yudhiṣṭhira thưa: “Thưa Ông nội, xin hãy nói cho con biết điều gì là thanh tịnh nhất trong mọi điều có thể thanh tịnh—điều mà bậc trí và người có văn hóa trong đời tán đồng là thật sự trong sạch, và điều được xem là tối thượng trong năng lực tẩy tịnh.”

Verse 2

भीष्म उवाच गावो महार्था: पुण्याश्ष॒ तारयन्ति च मानवान्‌ | धारयन्ति प्रजाश्षेमा हविषा पयसा तथा,भीष्मजीने कहा--राजन! गौएँ महान प्रयोजन सिद्धू करनेवाली तथा परम पवित्र हैं। ये मनुष्योंको तारनेवाली हैं और अपने दूध-घीसे प्रजावर्गके जीवनकी रक्षा करती हैं

Bhīṣma đáp: “Tâu Đại vương, bò có giá trị lớn lao cả về đời lẫn đạo, và vô cùng thanh tịnh. Chúng giúp con người vượt qua (tội lỗi và khổ nạn); và nhờ sữa, cùng bơ tinh luyện (ghee) dùng trong tế lễ, chúng nâng đỡ an lạc và sự an ổn của muôn loài.”

Verse 3

न हि पुण्यतमं किंचिद्‌ गो भ्यो भरतसत्तम । एता: पुण्या: पवित्राश्न त्रिषु लोकेषु सत्तमा:,भरतश्रेष्ठ। गौओंसे बढ़कर परम पवित्र दूसरी कोई वस्तु नहीं है। ये पुण्यजनक, पवित्र तथा तीनों लोकोंमें सर्वश्रेष्ठ हैं

Bhīṣma nói: “Hỡi bậc ưu tú nhất trong dòng Bharata, không có gì công đức tối thượng hơn bò. Tự thân chúng là nguồn phước và sự thanh tịnh, và được xem là bậc đứng đầu trong muôn loài khắp ba cõi.”

Verse 4

देवानामुपरिष्टाच्च गाव: प्रतिवसन्ति वै । दत्त्वा चैतास्तारयन्ते यान्ति स्वर्ग मनीषिण:,गौएँ देवताओंसे भी ऊपरके लोकोंमें निवास करती हैं। जो मनीषी पुरुष इनका दान करते हैं, वे अपने आपको तारते हैं और स्वर्गमें जाते हैं

Bhīṣma tuyên bố: “Bò cư trú ở những cõi còn cao hơn cả cõi của chư thiên. Vì thế, bậc hiền trí đem bò làm vật bố thí sẽ tự cứu mình khỏi hiểm nạn và đạt đến thiên giới—khiến go-dāna (hiến tặng bò) trở thành một hành vi công đức tối thượng, đặt nền trên dharma và lòng từ mẫn.”

Verse 5

मान्धाता यौवनाश्रवश्व ययातिर्नहुषस्तथा । गा वै ददनत: सततं सहस्रशतसम्मिता:

Bhīṣma nói: “Māndhātā, Yauvanāśva, Yayāti, và cả Nahuṣa nữa—những bậc quân vương lừng danh trong truyền thống cổ xưa ấy—đã không ngừng bố thí bò, số lượng cúng dường lên đến hàng trăm nghìn.”

Verse 6

अपि चात्र पुरागीतां कथयिष्यामि तेडनघ,निष्पाप नरेश! इस विषयमें मैं तुम्हें एक पुराना वृत्तान्त सुना रहा हूँ। एक समयकी बात है, परम बुद्धिमान्‌ शुकदेवजीने नित्यकर्मका अनुष्ठान करके पवित्र एवं शुद्धचित्त होकर अपने पिता--ऋषियोंमें उत्तम श्रीकृष्णद्वैपायन व्यासको, जो लोकके भूत और भविष्यको प्रत्यक्ष देखनेवाले हैं, प्रणाम करके पूछा--'पिताजी! सम्पूर्ण यज्ञोंमें कौन-सा यज्ञ सबसे श्रेष्ठ देखा जाता है?

Bhīṣma nói: “Hơn nữa, hỡi đức vua vô tội, ta sẽ kể ở đây một truyền tích xưa. Về việc này, ta xin thuật lại một chuyện cổ: thuở nọ, bậc đại trí Śukadeva, sau khi hoàn tất các nghi lễ hằng ngày và trở nên thanh tịnh, tâm ý trong sáng, đã cúi lạy phụ thân mình—Śrī Kṛṣṇa Dvaipāyana Vyāsa, bậc tối thượng trong hàng hiền triết, người được nói là thấy rõ điều đã qua và điều sẽ đến—rồi hỏi: ‘Thưa cha, trong mọi tế lễ, tế lễ nào được xem là tối thượng?’”

Verse 7

ऋषीणामुत्तमं धीमान्‌ कृष्णद्वैपायनं शुक: । अभिवाद्याह्विककृतः शुचि: प्रयतमानस:,निष्पाप नरेश! इस विषयमें मैं तुम्हें एक पुराना वृत्तान्त सुना रहा हूँ। एक समयकी बात है, परम बुद्धिमान्‌ शुकदेवजीने नित्यकर्मका अनुष्ठान करके पवित्र एवं शुद्धचित्त होकर अपने पिता--ऋषियोंमें उत्तम श्रीकृष्णद्वैपायन व्यासको, जो लोकके भूत और भविष्यको प्रत्यक्ष देखनेवाले हैं, प्रणाम करके पूछा--'पिताजी! सम्पूर्ण यज्ञोंमें कौन-सा यज्ञ सबसे श्रेष्ठ देखा जाता है?

Bhīṣma nói: “Hỡi đức vua vô tội, ta sẽ thuật cho ngài một chuyện xưa về việc này. Thuở nọ, bậc trí tuệ siêu việt Śukadeva—sau khi hoàn tất các nghi lễ hằng ngày, trở nên thanh tịnh và giữ tâm điều phục—đến gần phụ thân mình, hiền triết tối thượng Kṛṣṇadvaipāyana Vyāsa, người được nói là thấy rõ điều đã qua và điều sẽ đến trong thế gian. Sau khi đảnh lễ, Śuka hỏi: ‘Thưa cha, trong mọi tế lễ, tế lễ nào được xem là tối thượng?’”

Verse 8

पितरं परिपप्रच्छ दृष्टलोकपरावरम्‌ | को यज्ञ: सर्वयज्ञानां वरिष्ठोडभ्युपलक्ष्यते,निष्पाप नरेश! इस विषयमें मैं तुम्हें एक पुराना वृत्तान्त सुना रहा हूँ। एक समयकी बात है, परम बुद्धिमान्‌ शुकदेवजीने नित्यकर्मका अनुष्ठान करके पवित्र एवं शुद्धचित्त होकर अपने पिता--ऋषियोंमें उत्तम श्रीकृष्णद्वैपायन व्यासको, जो लोकके भूत और भविष्यको प्रत्यक्ष देखनेवाले हैं, प्रणाम करके पूछा--'पिताजी! सम्पूर्ण यज्ञोंमें कौन-सा यज्ञ सबसे श्रेष्ठ देखा जाता है?

Bhīṣma nói: “Ngài (Śuka) đã hỏi phụ thân mình, bậc thấy rõ các cõi cao thấp của thế gian (quá khứ và tương lai): ‘Hỡi đức vua vô tội, tế lễ nào được nhận là tối thượng trong mọi tế lễ?’ Liên quan đến điều ấy, ta xin kể một chuyện xưa: thuở nọ, bậc đại trí Śukadeva, sau khi làm xong các nghi lễ hằng ngày và thanh tịnh cả thân lẫn tâm, đã cúi lạy phụ thân—Kṛṣṇa Dvaipāyana Vyāsa, bậc hiền triết tối thượng, người thấy điều đã qua và điều sẽ đến—rồi nêu câu hỏi này.”

Verse 9

किं च कृत्वा पर स्थान प्राप्रुवन्ति मनीषिण: । केन देवा: पवित्रेण स्वर्गमश्नन्ति वा विभो,'प्रभो! मनीषी पुरुष कौन-सा कर्म करके उत्तम स्थानको प्राप्त होते हैं तथा किस पवित्र कार्यके द्वारा देवता स्वर्गलोकका उपभोग करते हैं?

Bhīṣma nói: “Và làm việc gì thì bậc hiền trí đạt đến cảnh giới tối thượng? Và nhờ hành vi thanh tịnh nào mà chư thiên được hưởng thiên giới, hỡi bậc hùng lực?”

Verse 10

किं च यज्ञस्य यज्ञत्वं क्व च यज्ञ: प्रतिष्ठित: । देवानामुत्तमं कि च कि च सत्रमित: परम्‌,'यज्ञका यज्ञत्व क्‍या है? यज्ञ किसमें प्रतिष्ठित है? देवताओंके लिये कौन-सी वस्तु उत्तम है? इससे श्रेष्ठ यज्ञ क्या है?

Bhīṣma nêu lên những câu hỏi sắc bén về ý nghĩa nội tại của tế lễ: Điều gì thật sự làm cho một nghi thức xứng đáng được gọi là “yajña”? Yajña đứng vững trên nền tảng nào? Đối với chư thiên, điều thiện ích tối thượng là gì? Và có pháp hành tế tự nào được xem là còn cao hơn cả điều ấy chăng? Những câu hỏi ấy hướng cuộc bàn luận rời khỏi việc hành lễ thuần hình thức, để đi vào nguyên lý và mục đích khiến nghi lễ có tính chính đáng về đạo đức và tâm linh.

Verse 11

पवित्राणां पवित्र च यत्‌ तद्‌ ब्रूहि पितर्मम । एतच्छुत्वा तु वचन व्यास: परमधर्मवित्‌ पुत्रायाकथयत्‌ सर्व तत्त्वेन भरतर्षभ,“पिताजी! पवित्रोंमें पवित्र वस्तु क्या है? इन सारी बातोंका मुझसे वर्णन कीजिये।” भरतश्रेष्ठ! पुत्र शुकदेवका यह वचन सुनकर परम धर्मज्ञ व्यासने उससे सब बातें ठीक-ठीक बतायीं

Bhīṣma thưa: “Thưa phụ thân, xin nói cho con biết điều thanh tịnh bậc nhất trong mọi pháp thanh tịnh. Xin thuật lại tất cả cho con.” Hỡi bậc tráng kiện của dòng Bharata, nghe lời con mình, Vyāsa—bậc thông đạt tối thượng pháp—đã giảng giải mọi điều một cách chân thực và đầy đủ.

Verse 12

व्यास उवाच गाव: प्रतिष्ठा भूतानां तथा गाव: परायणम्‌ । गाव: पुण्या: पवित्राश्व गोधनं पावनं तथा

Vyāsa nói: “Bò là nền tảng của mọi loài hữu tình, và cũng là nơi nương tựa tối hậu. Bò là phước đức và thanh tịnh; của cải là đàn bò (godhāna) cũng có năng lực thanh tịnh.”

Verse 13

व्यासजी बोले--बेटा! गौएँ सम्पूर्ण भूतोंकी प्रतिष्ठा हैं। गौएँ परम आश्रय हैं। गौएँ पुण्यमयी एवं पवित्र होती हैं तथा गोधन सबको पवित्र करनेवाला है ।। पूर्वमासन्नशृंगा वै गाव इत्यनुशुश्रुम शंगार्थे समुपासन्त ता: किल प्रभुमव्ययम्‌,हमने सुना है कि गौएँ पहले बिना सींगकी ही थीं। उन्होंने सींगके लिये अविनाशी भगवान्‌ ब्रह्माकी उपासना की

Vyāsa nói: “Con ơi, bò là nền tảng của mọi loài hữu tình; bò là nơi nương tựa tối thượng. Bò đầy phước đức và thanh tịnh; của cải là đàn bò (godhāna) cũng làm cho mọi người được thanh tịnh. Ta từng nghe rằng thuở xưa bò vốn không có sừng. Vì cầu sừng, chúng được nói là đã thờ phụng Đấng Bất Hoại, Phạm Thiên (Brahmā).”

Verse 14

ततो ब्रह्मा तु गा: प्रायमुपविष्टा: समीक्ष्य ह । ईप्सितं प्रददौ ताभ्यो गोभ्य: प्रत्येकश: प्रभु:,भगवान्‌ ब्रह्माजीने गौओंको प्रायोपवेशन (आमरण उपवास) करते देख उन गौओंमेंसे प्रत्येकको उनकी अभीष्ट वस्तु दी

Bấy giờ Phạm Thiên (Brahmā), thấy đàn bò ngồi thực hành prāyopaveśana—nhịn ăn cho đến chết—liền ban cho từng con, theo thứ tự, đúng điều chúng cầu xin.

Verse 15

तासां शृंगाण्यजायन्त यस्या यादृड़मनोगतम्‌ । नानावर्णा: शृंगवन्त्यस्ता व्यरोचन्त पुत्रक

Vyāsa nói: “Trên những con bò ấy, sừng mọc lên đúng theo hình dạng mà mỗi con đã hình dung trong tâm. Mang những chiếc sừng nhiều màu sắc, chúng tỏa sáng rực rỡ, hỡi con của ta.”

Verse 16

बेटा! वरदान मिलनेके पश्चात्‌ गौओंके सींग प्रकट हो गये। जिसके मनमें जैसे सींगकी इच्छा थी, उसके वैसे ही हो गये। नाना प्रकारके रूप-रंग और सींगसे युक्त हुई उन गौओंकी बड़ी शोभा होने लगी ।। ब्रह्मणा वरदत्तास्ता हव्यकव्यप्रदा: शुभा: | पुण्या: पवित्रा: सुभगा दिव्यसंस्थानलक्षणा:,ब्रह्माजीका वरदान पाकर गौएँ मंगलमयी, हव्य-कव्य प्रदान करनेवाली, पुण्यजनक, पवित्र, सौभाग्यवती तथा दिव्य अंगों एवं लक्षणोंसे सम्पन्न हुईं

Vyāsa nói: “Sau khi nhận được ân huệ, sừng của đàn bò liền hiện ra. Trong lòng mỗi con mong muốn sừng như thế nào thì sừng của nó liền thành đúng như vậy. Với muôn vẻ hình dung, sắc màu và những chiếc sừng tương xứng, đàn bò ấy trở nên rực rỡ lạ thường. Nhờ phúc lành do Phạm Thiên (Brahmā) ban, chúng trở nên cát tường, có thể dâng hiến lễ vật cho chư thiên (havis) và cho tổ tiên (kavya); chúng thánh thiện và có năng lực tẩy tịnh, đầy đủ phúc lộc, mang hình tướng thần diệu cùng những dấu hiệu đặc biệt.”

Verse 17

गावस्तेजो महद्‌ दिव्यं गवां दान॑ प्रशस्यते । ये चैता: सम्प्रयच्छन्ति साधवो वीतमत्सरा:,गौएँ दिव्य एवं महान्‌ तेज हैं। उनके दानकी प्रशंसा की जाती है। जो सत्पुरुष मात्सर्यका त्याग करके गौओंका दान करते हैं, वे पुण्यात्मा कहे गये हैं। वे सम्पूर्ण दानोंके दाता माने गये हैं। निष्पाप शुकदेव! उन्हें पुण्यमय गोलोककी प्राप्ति होती है

Vyāsa nói: “Bò mang một hào quang lớn lao, mang tính thần linh; vì thế việc bố thí bò được ca ngợi. Những bậc thiện nhân, dứt bỏ lòng ganh ghét và ác ý, đem những con bò ấy mà hiến tặng, được xem là thật sự có công đức. Những người bố thí như vậy được kể như kẻ ban phát mọi thứ bố thí, và họ đạt đến cõi thanh tịnh của loài bò—Goloka.”

Verse 18

ते वै सुकृतिन: प्रोक्ता: सर्वदानप्रदाश्न ते । गवां लोकं तथा पुण्यमाप्रुवन्ति च तेडनघ,गौएँ दिव्य एवं महान्‌ तेज हैं। उनके दानकी प्रशंसा की जाती है। जो सत्पुरुष मात्सर्यका त्याग करके गौओंका दान करते हैं, वे पुण्यात्मा कहे गये हैं। वे सम्पूर्ण दानोंके दाता माने गये हैं। निष्पाप शुकदेव! उन्हें पुण्यमय गोलोककी प्राप्ति होती है

Vyāsa nói: “Những ai bố thí bò được tuyên xưng là thật sự có công đức. Những người bố thí như vậy được xem như kẻ ban phát mọi thứ bố thí, bởi việc hiến tặng bò được ca ngợi hơn các bố thí khác. Hỡi người vô tội, họ đạt đến cõi thanh tịnh của loài bò—Goloka, nơi phần thưởng tinh thần vô cùng trong sạch.”

Verse 19

यत्र वृक्षा मधुफला दिव्यपुष्पफलोपगा: । पुष्पाणि च सुगन्धीनि दिव्यानि द्विजसत्तम,द्विजश्रेष्ठ] गोलोकके सभी वृक्ष मधुर एवं सुस्वादु फल देनेवाले हैं। वे दिव्य फल- फूलोंसे सम्पन्न होते हैं। उन वृक्षोंके पुष्प दिव्य एवं मनोहर गन्धसे युक्त होते हैं

Vyāsa nói: “Ở nơi ấy, cây cối kết trái ngọt như mật, lại được điểm trang bằng hoa và quả cõi trời. Những đóa hoa của chúng là hoa thần diệu, tỏa hương tinh diệu, hỡi bậc tối thượng trong hàng ‘nhị sinh’.”

Verse 20

सर्वा मणिमयी भूमि: सर्वकाज्चनवालुका । सर्वर्तुसुखसंस्पर्शा निष्पड़का निरजा: शुभा:,वहाँकी भूमि मणिमयी है। वहाँकी बालुका कांचनचूर्णरूप है। उस भूमिका स्पर्श सभी ऋतुओंमें सुखद होता है। वहाँ धूल और कीचड़का नाम भी नहीं है। वह भूमि सर्वथा मंगलमयी है

Vyāsa miêu tả một cõi giới tối thượng cát tường: mặt đất tựa như kết bằng châu ngọc, còn cát thì như bột vàng. Chạm vào đâu cũng êm dịu trong mọi mùa, không hề thô ráp hay khó chịu. Nơi ấy không có bụi cũng chẳng có bùn; đất đai hoàn toàn thanh tịnh và cát tường—một hình ảnh của thế giới theo Chánh pháp, nơi thiên nhiên tự phản chiếu sự trong sạch nội tâm và công đức.

Verse 21

रक्तोत्पलवनैश्वैव मणिखण्डैर्हिरण्मयै: । तरुणादित्यसंकाशैर्भान्ति तत्र जलाशया:,वहाँके जलाशय लाल कमलवनोंसे तथा प्रातः-कालीन सूर्यके समान प्रकाशमान मणिजटित सुवर्णमय सोपानोंसे सुशोभित होते हैं

Vyāsa nói: Ở đó, các hồ ao rực rỡ huy hoàng—được điểm trang bởi những rừng sen đỏ và những bậc thềm bằng vàng khảm châu ngọc, sáng chói như mặt trời mới mọc. Lời miêu tả nhấn mạnh một cõi giới đẹp đẽ, trật tự và cát tường, gợi rằng sự hòa điệu đạo đức luôn đi cùng với hạnh hạnh chính trực.

Verse 22

महार्हमणिपत्रैश्न काउचनप्रभकेसरै: । नीलोत्पलविमिश्रैश्व सरोभिर्बहुपड्कजै:,वहाँकी भूमि कितने ही सरोवरोंसे शोभा पाती है। उन सरोवरोंमें नीलोत्पलमिश्रित बहुत-से कमल खिले रहते हैं। उन कमलोंके दल बहुमूल्य मणिमय होते हैं और उनके केसर अपनी स्वर्णमयी प्रभासे प्रकाशित होते हैं

Vyāsa kể rằng đất đai nơi ấy được tô điểm bởi vô số hồ. Trong làn nước nở rộ muôn đóa sen, xen lẫn những hoa súng xanh; cánh hoa như kết bằng bảo ngọc quý, còn nhụy hoa tỏa ánh vàng rực rỡ—một hình ảnh huy hoàng, cát tường và siêu phàm, khiến câu chuyện ngập tràn sắc thái linh thiêng và nâng cao đạo vị.

Verse 23

करवीरवनै: फुल्लै: सहस्रावर्तसंवृतै: । संतानकवनै: फुल्लैर्वक्षैश्ष समलंकृता:,उस लोकमें बहुत-सी नदियाँ हैं, जिनके तटोंपर खिले हुए कनेरोंके वन तथा विकसितसंतानक (कल्पवृक्ष-विशेष) के वन एवं अन्यान्य वृक्ष उनकी शोभा बढ़ाते हैं। वे वृक्ष और वन अपने मूल भागमें सहस्रों आवर्तोंसे घिरे हुए हैं

Vyāsa nói: Trong cõi ấy có nhiều dòng sông. Bờ sông được tô điểm bởi những rừng trúc đào karavīra nở rộ và những rừng saṃtānaka—loài cây trời ban phúc như ý—cùng bao cây cối khác. Quanh gốc các cây và những khu rừng ấy, muôn ngàn xoáy nước cuộn vòng, càng làm tăng vẻ kỳ diệu siêu phàm của cảnh giới.

Verse 24

निर्मलाभिश्न मुक्ताभिमणिभिश्न महाप्रभै: | उद्भूतपुलिनास्तत्र जातरूपैश्न निम्नगा:,उन नदियोंके तटोंपर निर्मल मोती, अत्यन्त प्रकाशमान मणिरत्न तथा सुवर्ण प्रकट होते हैं

Vyāsa nói: Ở đó, dọc bờ sông nổi lên những doi cát mới, và trong dòng nước hiện ra ngọc trai tinh khiết, bảo thạch rực sáng cùng vàng. Đó là hình ảnh về sự phong nhiêu của thiên nhiên, nhấn mạnh niềm tin rằng chốn linh thiêng sẽ ban lộ những báu vật cát tường, có sức gột rửa, cho người xứng đáng.

Verse 25

सर्वरत्नमयैश्रित्रैरवगाढा द्रुमोत्तमै: । जातरूपमयैश्चान्यैहुताशनसमप्रभै:,कितने ही उत्तम वृक्ष अपने मूलभागके द्वारा उन नदियोंके जलमें प्रविष्ट दिखायी देते हैं। वे सर्वरत्नमय विचित्र देखे जाते हैं। कितने ही सुवर्णमय होते हैं और दूसरे बहुत-से वृक्ष प्रज्ज्वलित अग्निके समान प्रकाशित होते हैं

Vyāsa nói: Nhiều cây thượng hạng hiện ra với rễ cắm sâu trong dòng nước của những con sông ấy. Có cây kỳ diệu, rực rỡ muôn sắc như được kết thành từ mọi loại châu báu; có cây bằng vàng; và còn vô số cây khác tỏa ánh sáng ngang với ngọn lửa đang bừng cháy.

Verse 26

सौवर्णा गिरयस्तत्र मणिरत्नशिलोच्चया: । सर्वरत्नमयैर्भान्ति शंगैश्वारुभिरुच्छितै:,वहाँ सोनेके पर्वत तथा मणि और रत्नोंके शैलसमूह हैं, जो अपने मनोहर, ऊँचे तथा सर्वरत्नमय शिखरोंसे सुशोभित होते हैं

Vyāsa miêu tả miền ấy được điểm trang bằng những dãy núi vàng và những khối đá cao vút kết từ ngọc báu, châu trân. Những đỉnh núi đẹp đẽ, sừng sững—rực rỡ toàn bằng muôn loại bảo thạch—tỏa sáng chói lòa, gợi nên cảnh huy hoàng phi phàm của cõi giới đang được thuật lại.

Verse 27

नित्यपुष्पफलास्तत्र नगा: पत्ररथाकुला: | दिव्यगन्धरसै: पुष्पै: फलैश्न भरतर्षभ

Vyāsa nói: “Ở đó, cây cối luôn trĩu hoa trĩu quả, và đầy đàn chim tụ hội. Hoa và quả của chúng mang hương thơm thần diệu và vị ngọt thần diệu, hỡi bậc tráng kiệt trong dòng Bharata.”

Verse 28

भरतश्रेष्ठ! वहाँके वृक्षोंमें सदा ही फ़ूल और फल लगे रहते हैं। वे वृक्ष पक्षियोंसे भरे होते हैं तथा उनके फूलों और फलोंमें दिव्य सुगन्ध और दिव्य रस होते हैं ।। रमन्ते पुण्यकर्माणस्तत्र नित्यं युधिष्ठिर । सर्वकामसमृद्धार्था नि:शोका गतमन्यव:,युधिष्ठिर! वहाँ पुण्यात्मा पुरुष ही सदा निवास करते हैं। गोलोकवासी शोक और क्रोधसे रहित, पूर्णकाम एवं सफलमनोरथ होते हैं

Hỡi bậc tối thượng trong dòng Bharata! Ở đó, cây cối luôn trĩu hoa trĩu quả; đầy chim muông; và trong hoa trái của chúng ngự hương thơm thiên giới cùng vị ngọt thiên giới. Hỡi Yudhiṣṭhira! Chỉ những người làm việc công đức mới thường trú nơi ấy—mọi ước nguyện đều viên mãn, mọi mục đích đều thành tựu, không còn sầu khổ, và cơn giận đã hoàn toàn tiêu tan.

Verse 29

विमानेषु विचित्रेषु रमणीयेषु भारत । मोदन्ते पुण्यकर्माणो विहरन्तो यशस्विन:,भरतनन्दन! वहाँके यशस्वी एवं पुण्यकर्मा मनुष्य विचित्र एवं रमणीय विमानोंमें बैठकर यथेष्ट विहार करते हुए आनन्दका अनुभव करते हैं

Vyāsa nói: “Hỡi Bhārata, những người có công đức—lừng danh và đức hạnh—hoan hỷ nơi ấy, tùy ý du hành, hưởng thụ những cỗ xa giá trên không kỳ diệu và mỹ lệ.”

Verse 30

उपक्रीडन्ति तान्‌ राजन्‌ शुभाश्चाप्सरसां गणा: । एताल्लोॉकानवाप्रोति गां दत्त्वा वै युधिष्ठिर,राजन्‌! उनके साथ सुन्दरी अप्सराएँ क्रीड़ा करती हैं। युधिष्ठिर! गोदान करके मनुष्य इन्हीं लोकोंमें जाते हैं

Vyāsa nói: “Tâu Đại vương, tại nơi ấy, những đoàn Apsara rực rỡ vui đùa cùng họ. Hỡi Yudhiṣṭhira, nhờ bố thí một con bò, con người quả thật đạt đến chính những cõi ấy.”

Verse 31

येषामधिपति: पूषा मारुतो बलवान्‌ बली । ऐश्वर्ये वरुणो राजा नाममात्र युगन्धरा:,नरेन्द्र! शक्तिशाली सूर्य और बलवान्‌ वायु जिन लोकोंके अधिपति हैं, एवं राजा वरुण जिन लोकोंके ऐश्वर्यपर प्रतिष्ठित हैं, मनुष्य गोदान करके उन्हीं लोकोंमें जाता है। गौएँ युगन्धरा, सुरूपा, बहुरूपा, विश्वरूपा तथा सबकी माताएँ हैं। शुकदेव! मनुष्य संयम- नियमके साथ रहकर गौओंके इन प्रजापतिकथित नामोंका प्रतिदिन जप करे

Vyāsa nói: “Tâu Đại vương, những cõi mà Pūṣan (Thần Mặt Trời) và Thần Gió hùng mạnh làm chủ, cùng những cõi mà phú quý đặt nền trên Vua Varuṇa—nhờ bố thí bò, con người đạt đến chính các cõi ấy. Bò được gọi là Yugandharā, Surūpā, Bahurūpā, Viśvarūpā, và ‘Mẹ của muôn loài’. Hỡi Śukadeva, người sống với tự chế và giữ giới nên mỗi ngày tụng niệm những danh xưng của bò do Prajāpati đã tuyên thuyết.”

Verse 32

सुरूपा बहुरूपाश्न विश्वरूपाश्व मातर: । प्राजापत्यमिति ब्रह्मन्‌ जपेन्नित्यं यतव्रतः,नरेन्द्र! शक्तिशाली सूर्य और बलवान्‌ वायु जिन लोकोंके अधिपति हैं, एवं राजा वरुण जिन लोकोंके ऐश्वर्यपर प्रतिष्ठित हैं, मनुष्य गोदान करके उन्हीं लोकोंमें जाता है। गौएँ युगन्धरा, सुरूपा, बहुरूपा, विश्वरूपा तथा सबकी माताएँ हैं। शुकदेव! मनुष्य संयम- नियमके साथ रहकर गौओंके इन प्रजापतिकथित नामोंका प्रतिदिन जप करे

Vyāsa nói: “Hỡi Bà-la-môn, người giữ vững giới nguyện nên mỗi ngày tụng niệm những danh xưng của bò do Prajāpati ban: Surūpā, Bahurūpā, Viśvarūpā, và ‘Mātaraḥ’ (Các Bà Mẹ). Nhờ tôn kính và bố thí bò, con người đạt đến những cõi cao quý do Thần Mặt Trời hùng mạnh và Thần Gió quyền năng chủ trì, cùng những cõi mà phú quý nương tựa dưới Vua Varuṇa. Vì thế, lòng tôn kính đối với bò—thể hiện qua hiến tặng và tưởng niệm—trở thành con đường dharma dẫn đến công đức và vận mệnh cao thượng.”

Verse 33

गाश्च शुश्रूषते यश्व समन्वेति च सर्वश: । तस्मै तुष्टा: प्रयच्छन्ति वरानपि सुदुर्लभान्‌,जो पुरुष गौओंकी सेवा और सब प्रकारसे उनका अनुगमन करता है, उसपर संतुष्ट होकर गौएँ उसे अत्यन्त दुर्लभ वर प्रदान करती हैं

Vyāsa nói: “Ai phụng sự bò và theo sát chăm nom chúng mọi bề—khi bò hoan hỷ, chúng sẽ ban cho người ấy cả những ân huệ cực kỳ khó được.”

Verse 34

द्रहोन्न मनसा वापि गोषु नित्यं सुखप्रद: । अर्चयेत सदा चैव नमस्कारैश्व पूजयेत्‌,गौओंके साथ मनसे भी कभी द्रोह न करे, उन्हें सदा सुख पहुँचाये, उनका यथोचित सत्कार करे और नमस्कार आदिके द्वारा उनका पूजन करता रहे

Vyāsa nói: “Chớ bao giờ nuôi lòng ác ý đối với bò, dù chỉ trong ý nghĩ. Hãy luôn làm điều đem lại lợi ích và sự an ổn cho chúng, kính trọng chúng cho phải đạo, và không ngừng lễ bái bằng những lời chào cung kính cùng các hành vi tôn kính.”

Verse 35

दान्तः प्रीतमना नित्यं गवां व्युष्टिं तथाश्रुते । त्र्यहमुष्णं पिबेन्मूत्रं 5यहमुष्णं पिबेत्‌ पय:,जो मनुष्य जितेन्द्रिय और प्रसन्नचित्त होकर नित्य गौओंकी सेवा करता है, वह समृद्धिका भागी होता है। मनुष्य तीन दिनोंतक गरम गोमूत्र पीकर रहे, फिर तीन दिनतक गरम गोदुग्ध पीकर रहे

Vyāsa nói: Người biết tự chế, lòng luôn hoan hỷ, thường xuyên chăm nom đàn bò và chăm chú lắng nghe các phép tắc đã được quy định, sẽ được dự phần vào sự thịnh vượng. Là một kỷ luật tu khổ hạnh, nên uống nước tiểu bò còn ấm trong ba ngày, rồi tiếp đó uống sữa bò còn ấm trong ba ngày.

Verse 36

गवामुष्णं पय: पीत्वा ऋयहमुष्णं घृतं पिबेत्‌ । त्रयहमुष्णं घृतं पीत्वा वायुभक्षो भवेत्‌ ऋ यहम्‌,गरम गोदुग्ध पीनेके पश्चात्‌ तीन दिनोंतक गरम-गरम गोघृत पीये। तीन दिनतक गरम घी पीकर फिर तीन दिनोंतक वह वायु पीकर रहे

Vyāsa nói: “Sau khi uống sữa bò còn ấm, nên uống bơ tinh luyện (ghṛta) còn ấm trong ba ngày. Uống bơ tinh luyện còn ấm ba ngày xong, rồi trong ba ngày tiếp theo hãy sống chỉ nhờ vào khí—lấy gió làm lương thực.” Trong mạch văn, đây là một pháp tu khổ hạnh theo từng bậc để thanh lọc, nhấn mạnh sự tự chế và điều hòa thân thể như một phần của việc hành trì dharma.

Verse 37

येन देवा: पवित्रेण भुज्जते लोकमुत्तमम्‌ । यत्‌ पवित्र पवित्राणां तद्‌ घृतं शिरसा वहेत्‌,देवगण भी जिस पवित्र घृतके प्रभावसे उत्तम-उत्तम लोकका पालन करते हैं तथा जो पवित्र वस्तुओंमें सबसे बढ़कर पवित्र है, उससे घृतको शिरोधार्य करे

Vyāsa nói: “Nhờ chất tẩy uế ấy mà chư thiên thọ dụng và nâng đỡ những cõi tối thượng; và vì nó là vật thanh tịnh nhất trong mọi điều thanh tịnh—hãy đội bơ tinh luyện (ghṛta) trên đầu như một hành vi thiêng liêng, đầy kính ngưỡng.”

Verse 38

घृतेन जुहुयादग्निं घृतेन स्वस्ति वाचयेत्‌ । घृतं प्राशेद्‌ घृतं दद्याद्‌ गवां पुष्टि तथाश्रुते,गायके घीके द्वारा अग्निमें आहुति दे। घृतकी दक्षिणा देकर ब्राह्मणोंद्वारा स्वस्तिवाचन कराये। घृत भोजन करे तथा गोघृतका ही दान करे। ऐसा करनेसे मनुष्य गौओंकी समृद्धि एवं अपनी पुष्टिका अनुभव करता है

Vyāsa nói: Hãy dâng lễ vật vào lửa bằng bơ tinh luyện (ghṛta), và cho tụng lời cát tường (svasti) với ghṛta làm lễ phí. Hãy dùng ghṛta làm thực phẩm, và cũng hãy bố thí ghṛta. Nhờ sự hành trì ấy, người ta nói rằng đàn bò được hưng thịnh và bản thân cũng được bồi dưỡng, thêm sức mạnh.

Verse 39

नि्तैश्व यवैगोभिमासं प्रश्नितयावक: । ब्रह्महत्यासमं पाप॑ सर्वमेतेन शुध्यते,गौओंके गोबरसे निकाले हुए जौकी लप्सीका एक मासतक भक्षण करे। इससे मनुष्य ब्रह्महत्या-जैसे पापसे भी छुटकारा पा जाता है

Vyāsa nói: Với kỷ luật bền bỉ, hãy sống trọn một tháng chỉ bằng cháo lúa mạch được nấu với các sản vật từ bò. Nhờ thực hành phép tu ấy, người ta được thanh tẩy, dù khỏi những tội nặng ngang với tội sát hại Bà-la-môn (brahmahatyā). Bài kệ đặt trọng tâm vào sự thanh tịnh gắn với bò và chế độ ăn được điều phục như một phương tiện gột rửa lỗi lầm và trở lại đời sống theo dharma.

Verse 40

पराभवाच्च दैत्यानां देवैः शौचमिदं कृतम्‌ । ते देवत्वमपि प्राप्ता: संसिद्धाक्ष महाबला:,जब दैत्योंने देवताओंको पराजित कर दिया, तब देवताओंने इसी प्रायश्चित्तका अनुष्ठान किया। इससे उन्हें पुनः (नष्ट हुए) देवत्वकी प्राप्ति हुई तथा वे महाबलवान्‌ और परम सिद्ध हो गये

Khi bọn Daitya khiến chư thiên bại trận, các vị thần đã cử hành chính nghi thức tẩy tịnh và sám hối này. Nhờ đó, họ lại đạt được thiên tính đã mất, trở nên đại lực và viên mãn thành tựu.

Verse 41

गाव: पवित्रा: पुण्याश्व॒ पावनं परमं महत्‌ | ताश्च दत्त्वा द्विजातिभ्यो नर: स्वर्गमुपाशुते,गौएँ परम पावन, पवित्र और पुण्यस्वरूपा हैं। वे महान्‌ देवता हैं। उन्हें ब्राह्मणोंको देकर मनुष्य स्वर्गका सुख भोगता है

Bò là loài thanh tịnh và linh thiêng, có năng lực tẩy uế tối thượng và công đức lớn lao. Người đem bò bố thí cho bậc “hai lần sinh” (dvija—đặc biệt là các Bà-la-môn) thì được lên cõi trời và hưởng an lạc thiên giới.

Verse 42

गवां मध्ये शुचिर्भूत्वा गोमतीं मनसा जपेत्‌ । पुताभिरद्धिराचम्य शुचिर्भवति निर्मल:,पवित्र जलसे आचमन करके पवित्र होकर गौओंके बीचमें गोमतीमन्त्र (गोमाँ अग्नेविमाँ अश्वि इत्यादि) का मन-ही-मन जप करे। ऐसा करनेसे वह अत्यन्त शुद्ध एवं निर्मल (पापमुक्त) हो जाता है

Sau khi súc miệng bằng nước thanh tịnh để tự làm mình trong sạch, người ấy nên đứng giữa đàn bò và niệm thầm trong tâm thần chú Gomati. Làm như vậy thì trở nên hết sức thanh khiết, trong sáng, thoát khỏi cấu uế tội lỗi.

Verse 43

अग्निमध्ये गवां मध्ये ब्राह्मणानां च संसदि | विद्यावेदव्रतस्नाता ब्राह्मुणा: पुण्यकर्मिण:,विद्या और वेददव्रतमें निष्णात पुण्यात्मा ब्राह्मणोंको चाहिये कि वे अग्नियों और गौओंके बीचमें तथा ब्राह्मणोंकी सभामें शिष्योंको यज्ञतुल्य गोमतीविद्याकी शिक्षा दें। जो तीन राततक उपवास करके गोमती-मन्त्रका जप करता है, उसे गौओंका वरदान प्राप्त होता है

Giữa các ngọn lửa tế tự, giữa đàn bò, và trong hội chúng Bà-la-môn, những Bà-la-môn đã được thanh luyện bởi học vấn, bởi việc học Veda và kỷ luật thệ nguyện—những người làm việc thiện—nên truyền dạy tri thức thiêng liêng.

Verse 44

अध्यापयेरन्‌ शिष्यान्‌ वै गोमतीं यज्ञसम्मिताम्‌ | त्रिरात्रोपोषितो भूत्वा गोमतीं लभते वरम्‌,विद्या और वेददव्रतमें निष्णात पुण्यात्मा ब्राह्मणोंको चाहिये कि वे अग्नियों और गौओंके बीचमें तथा ब्राह्मणोंकी सभामें शिष्योंको यज्ञतुल्य गोमतीविद्याकी शिक्षा दें। जो तीन राततक उपवास करके गोमती-मन्त्रका जप करता है, उसे गौओंका वरदान प्राप्त होता है

Vyāsa nói: Các Bà-la-môn uyên bác, được rèn luyện vững vàng trong tri thức thiêng và các giới hạnh theo Veda, hãy dạy cho môn đồ Gomati-vidyā—một pháp được xem ngang với tế lễ—dạy trước các ngọn lửa tế tự, giữa lửa và đàn bò, và trong hội chúng Bà-la-môn. Ai nhịn ăn ba đêm và trì tụng thần chú Gomati thì được ban phúc: được bò.

Verse 45

पुत्रकामश्न लभते पुत्रं धनमथापि वा | पतिकामा च भर्तरं सर्वकामांश्ष मानव: । गावस्तुष्टा: प्रयच्छन्ति सेविता वै न संशय:,पुत्रकी इच्छावाला पुत्र और धन चाहनेवाला धन पाता है। पतिकी इच्छा रखनेवाली सत्रीको मनके अनुकूल पति मिलता है। सारांश यह है कि गौओंकी आराधना करके मनुष्य सम्पूर्ण कामनाओंको प्राप्त कर लेता है। गौएँ मनुष्योंद्वारा सेवित और संतुष्ट होकर उन्हें सब कुछ देती हैं, इसमें संशय नहीं है

Vyāsa nói: Người khao khát có con thì được con; người khao khát của cải thì được của cải. Người nữ mong cầu chồng sẽ được người chồng hợp với ước nguyện trong lòng. Tóm lại, nhờ tôn kính và phụng sự bò, con người đạt được mọi điều mong muốn. Bò, khi được chăm nom và làm cho mãn ý, sẽ ban những ân phúc ấy—điều này không hề nghi ngờ.

Verse 46

एवमेता महाभागा यज्ञिया: सर्वकामदा: । रोहिण्य इति जानीहि नैताभ्यो विद्यते परम्‌,इस प्रकार ये महाभाग्यशालिनी गौएँ यज्ञका प्रधान अंग हैं और सबको सम्पूर्ण कामनाएँ देनेवाली हैं। तुम इन्हें रोहिणी समझो। इनसे बढ़कर दूसरा कुछ नहीं है

Vyāsa nói: Vì vậy, những con bò phúc đức ấy là phần cốt yếu của các nghi lễ tế tự và là kẻ ban phát mọi điều mong cầu. Hãy biết chúng là “Rohiṇī”; không gì vượt hơn chúng.

Verse 47

इत्युक्त: स महातेजा: शुक: पित्रा महात्मना । पूजयामास गां नित्यं तस्मात्‌ त्वमपि पूजय,युधिष्ठिर! अपने महात्मा पिता व्यासजीके ऐसा कहनेपर महातेजस्वी शुकदेवजी प्रतिदिन गौकी सेवा-पूजा करने लगे; इसलिये तुम भी गौओंकी सेवा-पूजा करो

Vyāsa nói: Được người cha đại đức dạy bảo như thế, Śuka rực rỡ hào quang đã bắt đầu tôn kính và phụng sự bò mỗi ngày. Vì vậy, hỡi Yudhiṣṭhira, ngươi cũng hãy tôn kính và chăm nom bò.

Verse 53

गता: परमकं स्थान देवैरपि सुदुर्लभम्‌ । युवनाश्वके पुत्र राजा मान्धाता, (सोमवंशी) नहुष और ययाति--ये सदा लाखों गौओंका दान किया करते थे; इससे वे उन उत्तम स्थानोंको प्राप्त हुए हैं, जो देवताओंके लिये भी अत्यन्त दुर्लभ हैं

Bhīṣma nói: Họ đã đạt đến cảnh giới tối thượng, nơi ngay cả chư thiên cũng khó bề tới được. Vua Mandhata, con của Yuvanāśva, cùng các vua dòng Somavaṃśa là Nahusha và Yayāti—những bậc quân vương ấy luôn bố thí bò đến hàng trăm nghìn. Nhờ sức mạnh của lòng hào hiệp không ngừng ấy, họ đạt đến những cõi lành cao quý, hiếm có ngay cả đối với thần linh.

Verse 80

इस प्रकार श्रीमह्ााभारत अनुशासनपर्वके अन्तर्गत दानधर्मपर्वमें गोदानविषयक अस्सीवाँ अध्याय पूरा हुआ

Như vậy kết thúc chương thứ tám mươi về việc bố thí bò (godāna) trong phần Dānadharma thuộc Anuśāsana Parva của Śrī Mahābhārata.

Verse 81

इति श्रीमहा भारते अनुशासनपर्वणि दानधर्मपर्वणि गोप्रदानिके एकाशीतितमो<ध्याय:

Như vậy kết thúc chương thứ tám mươi mốt, phần nói về việc bố thí bò, thuộc tiểu mục “Dāna-dharma” trong Anuśāsana Parva của bộ Mahābhārata linh thiêng. Lời kết (colophon) này đặt giáo huấn vào mạch chỉ dạy đạo đức của Bhīṣma về bố thí đúng pháp (dāna) và công đức của nó.

Frequently Asked Questions

The dilemma is how to neutralize a harmful agent protected by a legitimate boon without violating cosmic fairness: the solution must both restrain adharma and respect the rule-structure of boons, curses, and authorized means.

Efficacy is not merely force-based; it is procedure-based. When direct action is barred, dharmic outcomes emerge through sanctioned intermediaries, disciplined intention (saṃkalpa), and alignment with cosmic order.

Yes, the concluding valuation of jātarūpa (gold) functions as a normative meta-statement: gold is declared supremely purifying and auspicious, framed as Agni–Soma in nature, thereby linking the narrative to ritual theology and ethical valuation.