Adhyaya 44
Karna ParvaAdhyaya 4453 Versesयह अध्याय प्रत्यक्ष द्वंद्व से अधिक शिविर-आंतरिक तनाव और मनोवैज्ञानिक युद्ध पर केंद्रित है; युद्ध की दिशा पर तत्काल प्रभाव ‘एकता बनाए रखने’ के रूप में दिखता है।

Adhyaya 44

कर्णेन सैन्यस्थापनं तथा नानायुद्धसमवायः (Karna Reforms the Host and Multiple Duels Converge)

Upa-parva: Karṇa-yuddha-pravṛtti (Renewal of Engagements under Karṇa’s Initiative)

Dhṛtarāṣṭra, observing reports of Kaurava forces being pressed and wavering, asks Saṃjaya what actions the Kurus took amid repeated rout-like movement. Saṃjaya describes Karṇa, angered at the sight of Bhīma and the Pandava advance, moving to confront Bhīma while simultaneously restoring order among retreating Kaurava units through deliberate re-formation. The chapter then presents a structured set of simultaneous engagements: Śikhaṇḍī checks Karṇa with volleys; Karṇa counters by disabling horses, charioteer, and standard, and Śikhaṇḍī withdraws under pressure. Dhṛṣṭadyumna clashes with Duḥśāsana in an exchange of bow-cutting and rapid arrow-work, with Duḥśāsana demonstrating tactical resilience amid acclaim. Nakula and Vṛṣasena trade heavy arrow strikes; the broader formation fractures and is then partially stabilized. Sahadeva blocks Ulūka, killing his horses and charioteer, forcing Ulūka to dismount and seek protection among allied troops. Sātyaki wounds Śakuni, cuts his standard, and strikes his charioteer and horses; Śakuni escapes by mounting Ulūka’s chariot. Across the field, other duels (e.g., Yudhāmanyu vs. Kṛpa; Uttamaujā vs. Kṛtavarmā) illustrate the chapter’s theme: late-war combat is governed by rapid tactical adaptation, vehicle disablement, and morale effects as much as by direct slaying. The episode closes with intensified pressure on the Pandava host as combatants regroup and surge again.

Chapter Arc: रणभूमि के बीच, रथ पर बैठे कर्ण का क्रोध शल्य पर फूट पड़ता है—वह मद्र-देश और बाहीक-निवासियों के ‘दोष’ गिनाकर शल्य को नीचा दिखाने का संकल्प करता है। → कर्ण व्यंग्य-कथा और लोक-प्रसंगों की शृंखला छेड़ता है—एक ब्राह्मण अतिथि की दृष्टि से घर-गृहस्थी के आचार, हिमालय-निवास और विविध देशों के धर्मों का वर्णन, तथा बाहीकों के ‘विपर्यय’ (एक ही व्यक्ति का बार-बार वर्ण-परिवर्तन, दासत्व में गिरना) जैसे आरोपों से शल्य की जाति-भूमि को कलंकित करता है। → कर्ण बाहीक-आचरण की ‘अधर्म-सूची’ को तीखे श्लोकों में उछाल देता है—कृतघ्नता, परधन-अपहरण, मद्यपान, गुरुपत्नीगमन, वाक्पारुष्य, गोवध, रात्रिचर्या, परवस्त्र-उपभोग आदि—और उन्हें धर्महीन ठहराकर शल्य के सम्मान पर सीधा प्रहार करता है। → शल्य प्रत्युत्तर देता है, और दुर्योधन बीच में पड़कर दोनों को रोकता है; कर्ण को विराम दिया जाता है, शल्य भी प्रतिवाद के बाद युद्ध-कर्तव्य की ओर मुख करता है—कटु वाणी को दबाकर रथ-युद्ध की तैयारी पुनः केंद्र में आती है। → कटुता शांत तो होती है, पर भीतर की दरार बनी रहती है—आगामी संग्राम में यही रथ-सारथी और रथी का तनाव निर्णायक क्षणों में कैसे फूटेगा, यह अनकहा रह जाता है।

Shlokas

Verse 1

अ्र-क्ा पज्चचत्वारिशो< ध्याय: कर्णका मद्र आदि बाहीक-निवासियोंके दोष बताना, शल्यका उत्तर देना और दुर्योधनका दोनोंको शान्त करना कर्ण उवाच हन्त शल्य विजानीहि हन्त भूयो ब्रवीमि ते । उच्यमानं मया सम्यक्‌ त्वमेकाग्रमना: शृणु,कर्ण बोला--शल्य! पहले जो बातें बतायी गयी हैं, उन्हें समझो। अब मैं पुनः तुमसे कुछ कहता हूँ। मेरी कही हुई इस बातको तुम एकाग्रचित्त होकर सुनो--

Karna nói: “Nào, Śalya—hãy hiểu điều đã được nói trước đó. Giờ đây, ta lại nói với ngươi lần nữa. Hãy lắng nghe lời ta, với tâm chuyên nhất, vì ta nói rõ ràng và đầy đủ.”

Verse 2

ब्राह्मण: किल नो गेहमध्यगच्छत्‌ पुरातिथि: । आचार ं तत्र सम्प्रेक्ष्य प्रीतो वचनमत्रवीत्‌,पूर्वकालमें एक ब्राह्मण अतिथिरूपसे हमारे घरपर ठहरा था। उसने हमारे यहाँका आचार-विचार देखकर प्रसन्नता प्रकट करते हुए यह बात कही--

Karna nói: “Thuở xưa, có một vị Bà-la-môn, như một vị khách cổ thời, đã đến trú tại nhà ta. Thấy nề nếp và phong tục được giữ gìn nơi ấy, ông vui lòng và nói những lời này.”

Verse 3

मया हिमवत: शृड्गमेकेनाध्युषितं चिरम्‌ । दृष्टाश्न बहवो देशा नानाधर्मसमावृता:,“मैंने अकेले ही दीर्घकालतक हिमालयके शिखरपर निवास किया है और विभिन्न धर्मोंसे सम्पन्न बहुत-से देश देखे हैं

Karna nói: “Ta đã sống một mình rất lâu trên một đỉnh của Himavat, và ta đã thấy nhiều xứ sở—mỗi xứ đều được bao phủ và định hình bởi những dạng dharma khác nhau.”

Verse 4

न च केन च धर्मेण विरुध्यन्ते प्रजा इमा: । सर्व हि तेडब्रुवन्‌ धर्म यदुक्त वेदपारगै:,“इन सब देशोंके लोग किसी भी निमित्तसे धर्मके विरुद्ध नहीं जाते। वेदोंके पारगामी विद्वानोंने जैसा बताया है, उसी रूपमें वे लोग सम्पूर्ण धर्मको मानते और बतलाते हैं

Karna nói: “Những dân ấy không vì bất cứ cớ gì mà hành động trái với dharma. Quả thật, họ tuyên xưng và gìn giữ trọn vẹn dharma đúng như lời các bậc thông suốt Veda đã công bố.”

Verse 5

अटता तु ततो देशान्‌ नानाधर्मसमाकुलान्‌ । आगच्छता महाराज वाहीकेषु निशामितम्‌,“महाराज! विभिन्न धर्मोंसे युक्त अनेक देशोंमें घूमता-घामता जब मैं बाहीक देशमें आ रहा था, तब वहाँ ऐसी बातें देखने और सुननेमें आयीं

Karna nói: “Tâu đại vương, khi ta lang thang qua nhiều miền—những xứ sở đầy rẫy các dharma và tập tục xã hội khác nhau—và trên đường đến đây, ta đã quan sát thấy vài điều nơi người Vāhīka.”

Verse 6

तत्र वै ब्राह्मणो भूत्वा ततो भवति क्षत्रिय: । वैश्य: शूद्रश्न वाहीकस्ततो भवति नापित:,“उस देशमें एक ही बाहीक पहले ब्राह्मण होकर फिर क्षत्रिय होता है। तत्पश्चात्‌ वैश्य और शूद्र भी बन जाता है। उसके बाद वह नाई होता है। नाई होकर फिर ब्राह्मण हो जाता है। ब्राह्मण होनेके पश्चात्‌ फिर वही दास बन जाता है-

Karna nói: “Ở xứ ấy, một người Vāhīka trước hết thành brāhmaṇa, rồi lại hóa kṣatriya; kế đó thành vaiśya, thậm chí thành śūdra, rồi lại thành thợ cạo. Cứ thế, đổi vai đổi phận mãi, hắn xoay vòng qua các varṇa và nghề nghiệp.”

Verse 7

नापितश्च ततो भूत्वा पुनर्भवति ब्राह्मण: । द्विजो भूत्वा च तत्रैव पुनर्दासोडभिजायते,“उस देशमें एक ही बाहीक पहले ब्राह्मण होकर फिर क्षत्रिय होता है। तत्पश्चात्‌ वैश्य और शूद्र भी बन जाता है। उसके बाद वह नाई होता है। नाई होकर फिर ब्राह्मण हो जाता है। ब्राह्मण होनेके पश्चात्‌ फिर वही दास बन जाता है-

Karna nói: “Đã thành thợ cạo rồi, hắn lại trở thành brāhmaṇa. Và dù đã thành ‘kẻ hai lần sinh’ ngay tại xứ ấy, rốt cuộc hắn vẫn lại sinh ra làm nô lệ.”

Verse 8

भवन्त्येककुले विप्रा: प्रसृष्टा: कामचारिण: । गान्धारा मद्रकाश्नैव वाहीकाक्षाल्पचेतस:,“वहाँ एक ही कुलमें कुछ लोग ब्राह्मण और कुछ लोग स्वेच्छाचारी वर्णसंकर संतान उत्पन्न करनेवाले होते हैं। गान्धार, मद्र और बाहीक--इन सभी देशोंके लोग मन्दबुद्धि हुआ करते हैं

Karna nói: “Trong cùng một dòng họ có thể sinh ra kẻ là brāhmaṇa, lại cũng có kẻ buông thả, hành động theo dục vọng mà sinh ra con cái pha tạp. Người Gandhāra, Madra và Vāhīka cũng là hạng ít sáng suốt.”

Verse 9

एतन्मया श्रुतं तत्र धर्मसंकरकारकम्‌ । कृत्स्नामटित्वा पृथिवीं वाहीकेषु विपर्यय:

Karna nói: “Ta đã nghe điều ấy ở đó—một điều gây nên sự lẫn lộn và bại hoại của dharma. Ta đã lang thang khắp cõi đất, và nhận thấy rằng nơi xứ Vāhīka, có một sự đảo ngược lệch lạc (so với phép tắc đúng đắn).”

Verse 10

“उस देशमें मैंने इस प्रकार धर्मसंकरता फैलानेवाली बातें सुनीं। सारी पृथ्वीमें घूमकर केवल बाहीक देशमें ही मुझे धर्मके विपरीत आचार-व्यवहार दिखायी दिया” ।। हन्त शल्य विजानीहि हन्त भूयो ब्रवीमि ते । यदप्यन्यो5ब्रवीद्‌ वाक्‍्यं वाहीकानां च कुत्सितम्‌,शल्य! ये सब बातें जान लो। अभी और कहता हूँ। एक दूसरे यात्रीने भी बाहीकोंके सम्बन्धमें जो घृणित बातें बतायी थीं, उन्हें सुनो--

Karna nói: “Này Shalya, hãy biết cho rõ; ta sẽ nói thêm nữa. Hãy nghe cả lời tường thuật ô uế mà một lữ khách khác từng kể về người Vāhīka.” Ở đoạn này, Karna đặt lời lên án của mình như một lời cảnh tỉnh dựa trên dharma: sau khi đi khắp nơi, ông cho rằng chỉ tại xứ Vāhīka ông mới thấy những lối hành xử trái nghịch với chuẩn mực chính đạo, và ông thúc giục Shalya ghi nhớ những lời truyền kể ấy.

Verse 11

सती पुरा हृता काचिदारट्टात्‌ किल दस्युभि: । अधर्मतश्नोपयाता सा तानभ्यशपत्‌ ततः,“कहते हैं, प्राचीन कालमें लुटेरे डाकुओंने आरट्ट देशसे किसी सती स्त्रीका अपहरण कर लिया और अधर्मपूर्वक उसके साथ समागम किया। तब उसने उन्हें यह शाप दे दिया --

Karna nói: “Người ta kể rằng thuở xưa, một người phụ nữ trinh liệt đã bị bọn cướp từ xứ Āraṭṭa bắt cóc. Sau khi chúng cưỡng bức nàng bằng bạo lực phi nghĩa, nàng liền giáng lời nguyền lên chúng rằng—”

Verse 12

बालां बन्धुमतीं यन्मामधर्मेणोपगच्छथ । तस्मान्नार्यों भविष्यन्ति बन्धक्यो वै कुलस्य च

Karna nói: “Vì các ngươi đã đến với ta bằng cách phi dharma đối với một thiếu nữ còn được che chở và ràng buộc bởi tình thân tộc, nên đàn bà trong nhà các ngươi cũng sẽ trở thành kẻ bị bắt làm tù nhân.”

Verse 13

तस्मात्‌ तेषां भागहरा भागिनेया न सूनव:,“इसलिये उनकी धन-सम्पत्तिके उत्तराधिकारी भानजे होते हैं, पुत्र नहीं

Karna nói: “Vì thế, đối với họ, kẻ nhận phần chia và người thừa kế tài sản chính đáng là con trai của chị/em gái (cháu trai), chứ không phải con trai.”

Verse 14

कुरव: सहपाञ्चाला: शाल्वा मत्स्या: सनैमिषा: | कोसला: काशयोडज्जञाशक्ष॒ कालिड्रा मागधास्तथा

Karna nói: “Người Kuru cùng với người Pañcāla; người Śālva; người Matsya; những kẻ có liên hệ với Naimiṣa; người Kosala; người Kāśi; và cả người Māgadha nữa—tất thảy các dân ấy cùng những đồng minh khác đều bị cuốn vào cuộc chiến này.”

Verse 15

नानादेशेषु सन्तश्न प्रायो बाह्मालयादृते,'भिन्न-भिन्न देशोंमें बाहीकनिवासियोंको छोड़कर प्राय: सर्वत्र श्रेष्ठ पुरुष उपलब्ध होते हैं। मत्स्यसे लेकर कुरु और पांचाल देशतक, नैमिषारण्यसे लेकर चेदिदेशतक जो लोग निवास करते हैं, वे सभी श्रेष्ठ एवं साधु पुरुष हैं और प्राचीन धर्मका आश्रय लेकर जीवननिर्वाह करते हैं। मद्र और पंचनद प्रदेशोंमें ऐसी बात नहीं है। वहाँके लोग कुटिल होते हैं!

Karna nói: “Ở nhiều xứ, thường thì người hiền lương có mặt gần như khắp nơi—chỉ trừ giữa người Bāhlīka. Từ Matsya cho đến đất Kuru và Pañcāla, và từ rừng Naimiṣāraṇya cho đến nước Cedi, những ai cư ngụ ở đó đều là bậc ưu tú và đức hạnh, nương tựa vào dharma cổ xưa mà sinh sống. Nhưng ở các miền Madra và Pañcanada thì không như vậy; người nơi ấy vốn quanh co, xảo trá.”

Verse 16

आ मत्स्येभ्य: कुरुपज्चालदेश्या आ नैमिषाच्चेदयो ये विशिष्टा: । धर्म पुराणमुपजीवन्ति सन्‍्तो मद्रानृते पाउ्चनदांश्व जिह्मान्‌,'भिन्न-भिन्न देशोंमें बाहीकनिवासियोंको छोड़कर प्राय: सर्वत्र श्रेष्ठ पुरुष उपलब्ध होते हैं। मत्स्यसे लेकर कुरु और पांचाल देशतक, नैमिषारण्यसे लेकर चेदिदेशतक जो लोग निवास करते हैं, वे सभी श्रेष्ठ एवं साधु पुरुष हैं और प्राचीन धर्मका आश्रय लेकर जीवननिर्वाह करते हैं। मद्र और पंचनद प्रदेशोंमें ऐसी बात नहीं है। वहाँके लोग कुटिल होते हैं!

Karna nói: “Ngoại trừ người Madra và dân vùng Pañcanada, bậc hiền lương hầu như có ở khắp nơi. Từ Matsya cho đến đất Kuru và Pañcāla, và từ Naimiṣa cho đến người Cedi—những ai cư ngụ ở đó đều là kẻ xuất chúng và đức hạnh; họ nương vào dharma cổ xưa mà mưu sinh. Nhưng giữa người Madra và Pañcanada thì không như vậy; người nơi ấy hành xử quanh co.”

Verse 17

एवं विद्वान्‌ धर्मकथासु राजं- स्तृष्णी भूतो जडवच्छल्य भूय: । त्वं तस्य गोप्ता च जनस्य राजा षड्भागहर्ता शुभदुष्कृतस्य,राजा शल्य! ऐसा जानकर तुम जड पुरुषोंके समान धर्मोपदेशकी ओरसे मुँह मोड़कर चुपचाप बैठे रहो। तुम बाहीक देशके लोगोंके राजा और रक्षक हो; अतः उनके पुण्य और पापका भी छठा भाग ग्रहण करते हो

Karna nói: “Dẫu biết điều ấy, hỡi đại vương, trong những lời bàn về dharma, ngài lại ngồi im lặng, ngoảnh mặt đi như kẻ đần độn, hỡi Śalya. Ngài là vua và là người che chở cho dân ấy; bởi vậy ngài cũng gánh lấy một phần sáu công đức và tội lỗi của họ.”

Verse 18

अथवा दुष्कृतस्य त्वं हर्ता तेषामरक्षिता । रक्षिता पुण्यभाग्‌ राजा प्रजानां त्वं हपुण्यभाक्‌,अथवा उनकी रक्षा न करनेके कारण तुम केवल उनके पापोंमें ही हिस्सा बँटाते हो। प्रजाकी रक्षा करनेवाला राजा ही उसके पुण्यका भागी होता है; तुम तो केवल पापके ही भागी हो

Hoặc nếu không, vì đã không che chở họ, ngài trở thành kẻ nhận lấy điều ác của họ và là người bỏ mặc họ không được bảo vệ. Chỉ vị vua bảo hộ thần dân mới được chia phần công đức của họ; còn ngài, do lơ là việc bảo hộ, chỉ chia phần tội lỗi của họ mà thôi.

Verse 19

पूज्यमाने पुरा धर्मे सर्वदेशेषु शाश्वते । धर्म पाज्चनदं दृष्टवा धिगित्याह पितामह:,पूर्वकालमें समस्त देशोंमें प्रचलित सनातन धर्मकी जब प्रशंसा की जा रही थी, उस समय ब्रह्माजीने पंचनदवासियोंके धर्मपर दृष्टिपात करके कहा था कि '“धिक्कार है इन्हें!”

Karna nói: “Thuở xưa, khi Chánh pháp vĩnh cửu (Sanātana Dharma) được tôn vinh khắp mọi miền, Đấng Tổ Phụ (Phạm Thiên, Brahmā) đưa mắt nhìn pháp tục của dân Pañcanada rồi phán: ‘Thật đáng hổ thẹn cho chúng!’”

Verse 20

व्रात्यानां दासमीयानां कृते5प्यशुभकर्मणाम्‌ । ब्रह्मणा निन्दिते धर्मे स त्वं लोके किमब्रवी:,संस्कारहीन, जारज और पापकर्मी पंचनदवासियोंके धर्मकी जब ब्रह्माजीने सत्ययुगमें भी निन्‍दा की, तब तुम उसी देशके निवासी होकर जगत्‌मे क्‍यों धर्मोपदेश करने चले हो?

“Đó là pháp tục mà Phạm Thiên đã chê trách—pháp của bọn Vrātya và Dāsamīya, của kẻ không thọ nghi lễ, con hoang, và những kẻ làm việc bất tường. Vậy ngươi, là người của cõi đời này, đã nói gì mà dám đi giảng đạo cho thiên hạ?”

Verse 21

इति पाउ्चनदं धर्ममवमेने पितामह: । स्वधर्मस्थेषु वर्षेषु सो5प्येतान्‌ नाभ्यपूजयत्‌,पितामह ब्रह्माने पंचनदनिवासियोंके आचार-व्यवहाररूपी धर्मका इस प्रकार अनादर किया है। अपने धर्ममें तत्पर रहनेवाले अन्य देशोंकी तुलनामें उन्होंने इनका आदर नहीं किया

Karna nói: “Bởi vậy, Đấng Tổ Phụ (Brahmā) đã tỏ lòng khinh miệt đối với pháp tục—tức khuôn phép sinh hoạt—của dân Pañcanada. Dẫu họ vẫn chuyên cần trong bổn phận của mình, Ngài cũng không tôn trọng họ như đã tôn trọng các xứ khác vốn giữ đạo của riêng mình.”

Verse 22

हन्त शल्य विजानीहि हन्त भूयो ब्रवीमि ते । कल्माषपाद: सरसि निमज्जन्‌ राक्षसोडब्रवीत्‌,शल्य! इन सब बातोंको अच्छी तरह जान लो। अभी इस विषयमें तुमसे कुछ और भी बातें बता रहा हूँ, जिन्हें सरोवरमें डूबते हुए राक्षस कल्माषपादने कहा था--

Karna nói: “Này Śalya, hãy biết cho tường tận. Ta còn nói với ngươi thêm nữa. Khi con rākṣasa Kalmāṣapāda đang chìm xuống trong hồ, nó đã thốt ra những lời này—”

Verse 23

क्षत्रियस्य मल भैक्ष्यं ब्राह्मणस्याश्रुतं मलम्‌ मलं॑ पृथिव्यां वाहीका: स्त्रीणां मद्रस्त्रियो मलम्‌,'क्षत्रियका मल है भिक्षावृत्ति, ब्राह्मणका मल है वेद-शास्त्रोंके विपरीत आचरण, पृथ्वीके मल हैं बाहीक और स्त्रियोंके मल हैं मद्रदेशकी स्त्रियाँ"

Karna nói: “Với một kṣatriya, nỗi nhục (mala) là sống bằng của bố thí. Với một brāhmaṇa, nỗi nhục là hành xử trái với điều đã được nghe trong Veda và thánh giáo. Nỗi nhục của mặt đất là bọn Vāhīka; và nỗi nhục trong hàng nữ nhân là đàn bà xứ Madra.”

Verse 24

निमज्जमानमुद्धृत्य कश्चिद्‌ राजा निशाचरम्‌ | अपृच्छत्‌ तेन चाख्यातं प्रोक्तवांस्तन्निबोध मे,उस डूबते हुए राक्षसका किसी राजाने उद्धार करके उससे कुछ प्रश्न किया। उनके उस प्रश्नके उत्तरमें राक्षसने जो कुछ कहा था, उसे सुनो--

Một vị vua nọ đã vớt lên một dạ-xoa lang thang trong đêm đang chìm xuống, rồi hỏi hắn. Nay hãy nghe ta: điều mà dạ-xoa ấy thuật lại để đáp lời câu hỏi đó, ta sẽ kể lại đây.

Verse 25

मानुषाणां मल म्लेच्छा म्लेच्छानां शौण्डिका मलम्‌ | शौण्डिकानां मलं षण्ढा: षण्ढानां राजयाजका:,“मनुष्योंके मल हैं म्लेच्छ, म्लेच्छोंके मल हैं शराब बेचनेवाले कलाल, कलालोंके मल हैं हींजड़े और हींजड़ोंके मल हैं राजपुरोहित

Karna nói: «Trong loài người, kẻ bị gọi là ‘mleccha’ (ngoại nhân, bị khinh miệt) là hạng thấp; trong mleccha, bọn bán rượu là thấp nhất; trong bọn bán rượu, hoạn quan là thấp nhất; và trong hoạn quan, kẻ làm tư tế cho vua chúa là thấp nhất.»

Verse 26

राजयाजकयाज्यानां मद्रकाणां च यन्मलम्‌ | तद्‌ भवेद्‌ वै तव मल यद्यस्मान्न विमुड्चसि,“राजपुरोहितोंके पुरोहितों तथा मद्रदेशवासियोंका जो मल है, वह सब तुम्हें प्राप्त हो, यदि इस सरोवरसे तुम मेरा उद्धार न कर दो”

Karna nói: «Nếu ngươi không thả ta ra khỏi hồ này, thì mọi ô uế gán cho các tư tế hoàng gia và những kẻ được làm tế lễ cho, cùng sự bất tịnh người ta quy cho dân Madra, hãy đổ cả lên ngươi như chính phần nhơ bẩn của ngươi.»

Verse 27

इति रक्षोपसृष्टेषु विषवीर्यहतेषु च । राक्षसं भैषजं प्रोक्ते संसिद्धवचनोत्तरम्‌,जिनपर राक्षसोंका उपद्रव है तथा जो विषके प्रभावसे मारे गये हैं, उनके लिये यह उत्तम सिद्ध वाक्य ही राक्षसके प्रभावका निवारण करनेवाला एवं जीवनरक्षक औषध बताया गया है

Karna nói: «Vì thế, đối với những kẻ bị rākṣasa quấy nhiễu, và đối với những kẻ gục ngã bởi uy lực của độc dược, lời tụng đã được thành tựu này được tuyên xưng là phương dược trừ rākṣasa—một thứ thuốc linh nghiệm xua tà lực và hoàn sinh.»

Verse 28

ब्राह्मं पज्चाला: कौरवेयास्तु धर्म्य सत्यं मत्स्या: शूरसेनाश्न यज्ञम्‌ । प्राच्या दासा वृषला दाक्षिणात्या: स्तेना वाहीका: संकरा वै सुराष्ट्रा:,पांचाल देशके लोग वेदोक्त धर्मका आश्रय लेते हैं, कुरुदेशके निवासी धर्मानुकूल कार्य करते हैं, मत्स्यदेशके लोग सत्य बोलते और शूरसेननिवासी यज्ञ करते हैं। पूर्वदेशके लोग दासकर्म करनेवाले, दक्षिणके निवासी वृषल, बाहीक देशके लोग चोर और सौराष्ट्र-निवासी वर्णसंकर होते हैं

Karna nói: «Người Pañcāla nương theo khuôn phép Veda (Bà-la-môn); người Kuru hành xử hợp với dharma. Người Matsya nổi tiếng nói lời chân thật, còn người Śūrasena nổi tiếng làm tế lễ. Nhưng người phương Đông bị coi là hợp với việc nô dịch; người phương Nam bị gọi là ‘vṛṣala’ (ngoài trật tự chính thống); người Vāhīka bị gọi là kẻ trộm; và người Surāṣṭra bị cho là có nguồn gốc pha tạp.»

Verse 29

कृतघ्नता परवित्तापहारो मद्यपानं गुरुदारावमर्द: । वाक्पारुष्यं गोवधो रात्रिचर्या बहिर्गेहं परवस्त्रोपभोग:

Karna nói: “Vô ơn, cướp đoạt tài sản của người khác, uống chất say, xâm phạm vợ của thầy, lời nói thô bạo và lăng mạ, giết bò, lang thang ban đêm vì mục đích bất chính, ở ngoài nhà mình, và mặc hay hưởng dùng y phục của người khác—đó là những hành vi đánh dấu sự suy đồi đạo hạnh và chuốc lấy lời chê trách trong trật tự của dharma.”

Verse 30

आ पाज्चाल्येभ्य: कुरवो नैमिषाश्न मत्स्याश्वैतेडप्पथ जानन्ति धर्मम्‌ । अथोदीच्याश्षाज्गका मागधाश्ष शिष्टान्‌ धर्मानुपजीवन्ति वृद्धा:

Karna nói: “Từ người Pāñcāla trở đi, các Kuru, dân Naimiṣa và người Matsya—nay đều biết con đường đúng đắn của dharma. Cũng vậy, người phương bắc, người Śāṅgaka và người Māgadha—đặc biệt là các bậc trưởng lão—sống theo những chuẩn mực tinh luyện, đã được thiết lập của hạnh kiểm chính trực.”

Verse 31

पांचाल, कौरव, नैमिष और मत्स्यदेशोंके निवासी धर्मको जानते हैं। उत्तर, अंग तथा मगधदेशोंके वृद्ध पुरुष शास्त्रोक्त धर्मोका आश्रय लेकर जीवन निर्वाह करते हैं ।। प्राचीं दिशं श्रिता देवा जातवेद:पुरोगमा: । दक्षिणां पितरो गुप्तां यमेन शुभकर्मणा

Karna nói rằng người Panchala, các Kaurava, người Naimiṣa và cư dân xứ Matsya đều hiểu dharma. Ở các miền phương bắc, cũng như tại Anga và Magadha, các bậc trưởng lão nương tựa vào dharma được dạy trong kinh điển mà duy trì đời sống. Ông còn nhắc đến trật tự vũ trụ: chư thần an trú ở phương đông, với Agni (Jātavedas) dẫn đầu; còn phương nam—được Yama gìn giữ bằng sự cai trị công chính—là cõi của các Pitṛ (tổ tiên).

Verse 32

प्रतीचीं वरुण: पाति पालयान: सुरान्‌ बली | उदीचीं भगवान्‌ सोमो ब्राह्मणैः सह रक्षति

Karna nói: “Varuṇa hùng mạnh, đấng nâng đỡ chư thần, canh giữ phương tây. Và Soma cát tường, cùng với các Bà-la-môn, bảo hộ phương bắc.”

Verse 33

अग्नि आदि देवता पूर्वदिशाका आश्रय लेकर रहते हैं, पितर पुण्यकर्मा यमराजके द्वारा सुरक्षित दक्षिण दिशामें निवास करते हैं, बलवान्‌ वरुण देवताओंका पालन करते हुए पश्चिम दिशाकी रक्षामें तत्पर रहते हैं और भगवान्‌ सोम ब्राह्मणोंके साथ उत्तर दिशाकी रक्षा करते हैं।। तथा रक्ष:पिशाचाश्न हिमवन्तं नगोत्तमम्‌ | गुहुका श्व महाराज पर्वतं गन्धमादनम्‌

Karna nói: “Agni và các thần khác an trú ở phương đông. Các Pitṛ, những bậc có công đức, cư ngụ ở phương nam dưới sự che chở của vua Yama. Varuṇa hùng mạnh, nâng đỡ chư thần, luôn chuyên tâm canh giữ phương tây. Và Soma cát tường, cùng với các Brāhmaṇa, bảo hộ phương bắc. Cũng vậy, hỡi đại vương, Himavant—ngọn núi tối thượng—gắn với các đoàn Rākṣasa và Piśāca; còn núi Gandhamādana gắn với các Guhyaka.”

Verse 34

इज्ितज्ञाश्व मगधा:ः प्रेक्षितज्ञाक्ष कोसला:,मगधदेशके लोग इशारेसे ही सब बात समझ लेते हैं, कोसलनिवासी नेत्रोंकी भावभंगीसे मनका भाव जान लेते हैं, कुरु तथा पांचालदेशके लोग आधी बात कहनेपर ही पूरी बात समझ लेते हैं, शाल्वदेशके निवासी पूरी बात कह देनेपर उसे समझ पाते हैं, परंतु शिबिदेशके लोगोंकी भाँति पर्वतीय प्रान्तोंक निवासी इन सबसे विलक्षण होते हैं। वे पूरी बात कहनेपर भी नहीं समझ पाते

Karna nói: “Người xứ Magadha chỉ cần một lời gợi ý là nắm được việc; người Kosala đọc được lòng người qua ánh mắt. Người Kuru và Panchala hiểu trọn ý dù chỉ nói nửa lời. Người Shalva chỉ hiểu khi đã nói hết câu. Còn dân vùng biên núi—như người Shibi—thì khác hẳn tất cả: dù nói hết mọi điều, họ vẫn không hiểu.”

Verse 35

अर्धोक्ता: कुरुपज्चाला: शाल्वा: कृत्स्नानुशासना: । पर्वतीयाश्ष विषमा यथैव शिबयस्तथा,मगधदेशके लोग इशारेसे ही सब बात समझ लेते हैं, कोसलनिवासी नेत्रोंकी भावभंगीसे मनका भाव जान लेते हैं, कुरु तथा पांचालदेशके लोग आधी बात कहनेपर ही पूरी बात समझ लेते हैं, शाल्वदेशके निवासी पूरी बात कह देनेपर उसे समझ पाते हैं, परंतु शिबिदेशके लोगोंकी भाँति पर्वतीय प्रान्तोंक निवासी इन सबसे विलक्षण होते हैं। वे पूरी बात कहनेपर भी नहीं समझ पाते

Karna nói: “Người Kuru và Panchala nắm trọn ý dù chỉ nói nửa lời. Người Śālva chỉ hiểu khi lời răn dạy được nói đủ. Còn dân miền núi thì khó đối đãi—như người Śibi: dù nói hết mọi điều, họ vẫn chẳng hiểu.”

Verse 36

सर्वज्ञा यवना राजन शूराश्वैव विशेषत: । म्लेच्छा: स्वसंज्ञानियता नानुक्तमितरे जना:

Karna nói: “Tâu Đại vương, người Yavana được xem như bậc thông tuệ mọi điều—đặc biệt là người Śūrāśva. Người Mleccha cũng có thể nhận ra nhờ những dấu hiệu và tập tục riêng; còn các dân khác thì không dễ phân biệt, nếu không được mô tả rõ ràng.”

Verse 37

स त्वमेतादृश: शल्य नोत्तरं वक्तुमहसि । पृथिव्यां सर्वदेशानां मद्रको मलमुच्यते,शल्य! ऐसे ही तुम हो। अब मेरी बातका जवाब नहीं दोगे। मद्रदेशके निवासीको पृथ्वीके सम्पूर्ण देशोंका मल बताया जाता है

Karna nói: “Vậy ra ngươi đúng là như thế, Śalya—không xứng đáp lại lời ta. Trên cõi đất này, người xứ Madra bị gọi là ‘đồ nhơ bẩn’ của mọi miền; vậy đó, Śalya.”

Verse 38

सीधो: पान॑ गुरुतल्पावमर्दों भ्रूणहत्या परवित्तापहार: | येषां धर्मस्तान्‌ प्रति नास्त्यधर्म आरडट्टजान्‌ पञ्चनदान्‌ धिगस्तु

Karna nói: “Uống rượu say, làm nhục giường thầy, giết bào thai, cướp đoạt của người—đối với kẻ lấy chính những điều ấy làm ‘dharma’, thì khi chống lại chúng, chẳng thể gọi là ‘adharma’. Hổ thẹn thay cho những kẻ sinh ra từ nỗi nhơ nhuốc ấy—những người của xứ Ngũ Hà.”

Verse 39

मदिरापान, गुरुकी शय्याका उपभोग, भ्रूणहत्या और दूसरोंके धनका अपहरण--ये जिनके लिये धर्म हैं, उनके लिये अधर्म नामकी कोई वस्तु है ही नहीं। ऐसे आरट्ट और पंचनददेशके लोगोंको धिक्कार है! ।। एतज्ज्ञात्वा जोषमास्स्व प्रतीपं मा सम वै कृथा: । मा त्वां पूर्वमहं हत्वा हनिष्ये केशवार्जुनौ,यह जानकर तुम चुपचाप बैठे रहो। फिर कोई प्रतिकूल बात मुँहसे न निकालो। अन्यथा पहले तुम्हींको मारकर पीछे श्रीकृष्ण और अर्जुनका वध करूँगा

Karna tuyên bố: với những kẻ coi say sưa rượu chè, xâm phạm giường của thầy, giết bào thai và cướp đoạt của cải người khác là “dharma”, thì chẳng còn cái gọi là “adharma” nữa—họ đã đánh mất cả ngôn ngữ đạo lý để phân biệt đúng sai. Karna liền nguyền rủa dân Ārāṭṭa và vùng Pañcanada như những kẻ tiêu biểu cho sự đảo lộn luân thường ấy. Nói xong, hắn ra lệnh đối thủ phải ngồi im, đừng thốt lời nghịch ý hay thù địch; bằng không, Karna sẽ giết kẻ đó trước, rồi mới tiến tới sát hại Kṛṣṇa (Keśava) và Arjuna.

Verse 40

शल्य उवाच आतुराणां परित्याग: स्वदारसुतविक्रय: । अड़े प्रवर्तते कर्ण येषामधिपतिर्भवान्‌,शल्य बोले--कर्ण! तुम जहाँके राजा बनाये गये हो, उस अंगदेशमें क्या होता है? अपने सगे-सम्बन्धी जब रोगसे पीड़ित हो जाते हैं तो उनका परित्याग कर दिया जाता है। अपनी ही स्त्री और बच्चोंको वहाँके लोग सरे बाजार बेचते हैं

Śalya nói: “Karna, ở xứ Aṅga—nơi ngươi được lập làm vua—người ta bảo những thói ấy đang thịnh hành: khi bà con ruột thịt lâm bệnh thì bị bỏ rơi; và dân ở đó còn đem chính vợ con mình ra chợ mà bán.”

Verse 41

रथातिरथसंख्यायां यत्‌ त्वां भीष्मस्तदाब्रवीत्‌ । तान्‌ विदित्वा55त्मनो दोषान्‌ निर्मन्युर्भव मा क्रुध:,उस दिन रथी और अतिरथियोंकी गणना करते समय भीष्मजीने तुमसे जो कुछ कहा था, उसके अनुसार अपने उन दोषोंको जानकर क्रोधरहित हो शान्त हो जाओ

Khi người ta đang định thứ bậc các chiến xa thủ và đại chiến xa thủ, Bhīṣma đã nói với ngươi điều gì hôm ấy—hãy nhận ra những khuyết điểm của chính mình theo lời ấy mà dẹp cơn giận, đừng để phẫn nộ bùng lên. Hãy tự trấn tĩnh.

Verse 42

सर्वत्र ब्राह्मणा: सन्ति सन्ति सर्वत्र क्षत्रिया: । वैश्या: शूद्रास्तथा कर्ण स्त्रिय: साध्व्यश्न सुव्रता:,कर्ण! सर्वत्र ब्राह्मण हैं। सब जगह क्षत्रिय, वैश्य और शूद्र हैं तथा सभी देशोंमें उत्तम व्रतका पालन करनेवाली साध्वी स्त्रियाँ होती हैं

Śalya nói: “Hỡi Karṇa, Bà-la-môn có ở khắp nơi; Sát-đế-lỵ cũng có ở khắp nơi. Vaishya và Shudra cũng vậy; và ở mọi xứ sở đều có những người phụ nữ đức hạnh—trinh chính và bền lòng giữ những lời nguyện tốt lành.”

Verse 43

रमन्ते चोपहासेन पुरुषा: पुरुषै: सह | अन्योन्यमवतक्षन्तो देशे देशे समैथुना:,सभी देशोंके पुरुष दूसरे पुरुषोंक साथ बात करते समय उपहासके द्वारा एक-दूसरेको चोट पहुँचाते हैं और स्त्रियोंके साथ रमण करते हैं

Śalya nói: “Ở mọi xứ sở, đàn ông khi trò chuyện với nhau đều thích chế nhạo—lấy lời cười cợt mà làm đau nhau—và họ cũng tìm khoái lạc trong sự giao hoan.”

Verse 44

इस प्रकार श्रीमह्या भारत कर्णपर्वमें कर्ण और शल्यका संवादविषयक चौवालीसवाँ अध्याय पूरा हुआ,परवाच्येषु निपुण: सर्वो भवति सर्वदा । आत्मवाच्यं न जानीते जानन्नपि च मुह्ति दूसरोंके दोष बतानेमें सभी लोग सदा ही निपुण होते हैं; परंतु अपने दोषोंका उन्हें पता नहीं रहता, अथवा जानकर भी अनजान बने रहते हैं

Như vậy kết thúc chương thứ bốn mươi bốn của Karṇa Parva trong Thánh sử Mahābhārata, nói về cuộc đối thoại giữa Karṇa và Śalya. Ai nấy đều luôn khéo chỉ ra điều đáng chê trách nơi người khác; nhưng lại không nhận ra điều đáng chê trách nơi chính mình—hoặc dẫu biết cũng vì mê muội mà làm như không hay.

Verse 45

सर्वत्र सन्ति राजान: स्वं स्वं धर्ममनुव्रता: । दुर्मनुष्यान्‌ निगृह्नन्ति सन्ति सर्वत्र धार्मिका:,सभी देशोंमें अपने-अपने धर्मका पालन करनेवाले राजा रहते हैं, जो दुष्टोंका दमन करते हैं तथा सर्वत्र ही धर्मात्मा मनुष्य निवास करते हैं इति श्रीमहाभारते कर्णपर्वणि कर्णशल्यसंवादे पञठ्चचत्वारिंशो5ध्याय:

Śalya nói: “Ở khắp nơi đều có những bậc quân vương giữ gìn pháp độ của mình. Họ chế ngự kẻ ác; và ở khắp nơi cũng có những người mộ đạo, sống theo dharma.”

Verse 46

न कर्ण देशसामान्यात्‌ सर्व: पापं निषेवते । यादृशा: स्वस्वभावेन देवा अपि न तादृशा:,कर्ण! एक देशमें रहनेमात्रसे सब लोग पापका ही सेवन नहीं करते हैं। उसी देशमें मनुष्य अपने श्रेष्ठ शील-स्वभावके कारण ऐसे महापुरुष हो जाते हैं कि देवता भी उनकी बराबरी नहीं कर सकते

Śalya nói: “Hỡi Karṇa, không phải cứ sống trong một xứ sở nào thì ai cũng tất yếu đắm mình trong tội lỗi. Ngay trên mảnh đất ấy, có người—nhờ phẩm hạnh và bản tính cao quý—trở thành bậc đại nhân đến nỗi chư thiên cũng không sánh kịp.”

Verse 47

संजय उवाच ततो दुर्योधनो राजा कर्णशल्याववारयत्‌ | सखिभावेन राधेयं शल्यं स्वाञउ्जल्यकेन च,संजय कहते हैं--राजन्‌! तब राजा दुर्योधनने कर्ण तथा शल्य दोनोंको रोक दिया। उसने कर्णको तो मित्रभावसे समझाकर मना किया और शल्यको हाथ जोड़कर रोका

Sañjaya nói: Bấy giờ vua Duryodhana ngăn cả Karṇa lẫn Śalya. Ông khuyên can Rādheya (Karṇa) bằng tình bằng hữu, còn với Śalya thì chắp tay mà giữ lại.

Verse 48

ततो निवारित: कर्णों धार्तराष्ट्रेण मारिष | कर्णो5पि नोत्तरं प्राह शल्यो5प्यभिमुख: परान्‌ । ततः प्रहस्य राधेय: पुनर्याहीत्यचोदयत्‌,मान्यवर! दुर्योधनके मना करनेपर कर्णने कोई उत्तर नहीं दिया और शल्यने भी शत्रुओंकी ओर मुँह फेर लिया। तब राधापुत्र कर्णने हँसकर शल्यको रथ बढ़ानेकी आज्ञा देते हुए कहा--“चलो, चलो”

Sañjaya nói: Thưa bậc đáng kính, khi bị con trai Dhṛtarāṣṭra (Duryodhana) ngăn lại, Karṇa không đáp lời; còn Śalya thì quay mặt về phía quân thù. Rồi Rādheya (Karṇa) bật cười và giục Śalya, ra lệnh đánh xe: “Tiến lên—đi tiếp!”

Verse 123

न चैवास्मात्‌ प्रमोक्षध्वं घोरात्‌ पापान्नराधमा: । “मैं अभी बालिका हूँ और मेरे भाई-बन्धु मौजूद हैं तो भी तुमलोगोंने अधर्मपूर्वक मेरे साथ समागम किया है। इसलिये इस कुलकी सारी स्त्रियाँ व्यभिचारिणी होंगी। नराधमो! तुम्हें इस घोर पापसे कभी छुटकारा नहीं मिलेगा”

“Các ngươi chớ hòng thoát khỏi tội ác ghê gớm này, hỡi bọn hạ nhân! Ta còn là một thiếu nữ, anh em thân tộc ta vẫn còn đây, vậy mà các ngươi đã dùng điều phi pháp mà cưỡng bức ta. Bởi thế, mọi người đàn bà trong dòng tộc này sẽ thành kẻ dâm loạn. Hỡi bọn hạ nhân! Các ngươi sẽ chẳng bao giờ được giải thoát khỏi tội lỗi ghê gớm ấy.”

Verse 146

चेदयश्न महाभागा धर्म जानन्ति शाश्वतम्‌ | “कुरु, पांचाल, शाल्व, मत्स्य, नैमिष, कोसल, काशी, अंग, कलिंग, मगध और चेदिदेशोंके बड़भागी मनुष्य सनातन धर्मको जानते हैं

Karna nói: “Người dân xứ Cedi vốn hữu phúc, biết Dharma vĩnh cửu. Cũng vậy, những bậc được phúc ở các miền Kuru, Panchala, Shalva, Matsya, Naimisha, Kosala, Kashi, Anga, Kalinga, Magadha và Cedi đều hiểu luật nghĩa lý vượt ngoài thời gian.”

Verse 293

येषां धर्मस्तान्‌ प्रति नास्त्यधर्मो ह्यारट्टानां पजचनदान्‌ धिगस्तु । कृतघ्नता, दूसरोंके धनका अपहरण, मदिरापान, गुरुपत्नीगमन, कटुवचनका प्रयोग, गोवध, रातके समय घरसे बाहर घूमना और दूसरोंके वस्त्रका उपभोग करना-ये सब जिनके धर्म हैं, उन आरट्टों और पंचनदवासियोंके लिये अधर्म नामकी कोई वस्तु है ही नहीं। उन्हें धिक्कार है!

Karna nói: “Kẻ nào lấy sự vô ơn, cướp đoạt của cải người khác, uống rượu, phạm vào vợ thầy, dùng lời cay độc, giết bò, lang thang ngoài nhà ban đêm, và mặc hay hưởng dùng y phục của người khác—làm ‘Dharma’ của mình, thì đối với họ chẳng hề có cái gọi là ‘Adharma’; bởi họ coi điều sai trái là luật sống. Thật đáng khinh cho bọn Āraṭṭa và dân Pañcanada!”

Verse 336

ध्रुव: सर्वाणि भूतानि विष्णु: पाति जनार्दन: । महाराज! राक्षस, पिशाच और गुह्मक--ये गिरिराज हिमालय तथा गन्धमादन पर्वतकी रक्षा करते हैं और अविनाशी एवं सर्वव्यापी भगवान्‌ जनार्दन समस्त प्राणियोंका पालन करते हैं (परंतु बाहीक देशपर किसी भी देवताका विशेष अनुग्रह नहीं है)

“Muôn loài đều có số mệnh nhất định; Vishnu—Janārdana—hộ trì chúng sinh. Tâu Đại vương! Các loài Rākṣasa, Piśāca và Guhyaka canh giữ núi chúa Himālaya và núi Gandhamādana; còn đức Janārdana bất hoại, khắp cùng mọi nơi, nuôi dưỡng hết thảy sinh linh (nhưng đối với xứ Vāhīka thì chẳng có vị thần nào ban ân đặc biệt).”

Verse 366

प्रतिरब्धास्तु वाहीका न च केचन मद्रका: । राजन! यद्यपि यवनजातीय म्लेच्छ सभी उपायोंसे बात समझ लेनेवाले और विशेषत: शूर होते हैं, तथापि अपने द्वारा कल्पित संज्ञाओंपर ही अधिक आग्रह रखते हैं (वैदिक धर्मको नहीं मानते)। अन्य देशोंके लोग बिना कहे हुए कोई बात नहीं समझते हैं, परंतु बाहीक देशके लोग सब काम उलटे ही करते हैं (उनकी समझ उलटी ही होती है) और मद्रदेशके कुछ निवासी तो ऐसे होते हैं कि कुछ भी नहीं समझ पाते

Karna nói: “Người Vāhīka thì cố chấp, và trong số dân Madraka cũng có kẻ chẳng khá hơn. Tâu Đại vương! Dẫu bọn mleccha gốc Yavana lanh trí, hiểu việc bằng mọi cách và đặc biệt dũng mãnh, nhưng họ lại bám chặt vào những danh xưng và quy ước do chính họ bày đặt, khước từ con đường Veda. Người các xứ khác không hiểu điều không nói ra; còn người Vāhīka thì làm mọi việc trái ngược, ngay cả sự hiểu biết của họ cũng đảo lộn. Và trong xứ Madra lại có những kẻ hoàn toàn chẳng hiểu gì.”

Frequently Asked Questions

The dilemma concerns leadership under collapse conditions: whether and how a commander should arrest panic, reconstitute formations, and re-engage—balancing immediate aggression (seeking key opponents) with the duty to preserve the army’s coherence.

Operational stability is portrayed as decisive: disabling mobility assets (horses, charioteers, standards) and managing morale can shift outcomes even without immediate fatalities, illustrating a pragmatic layer of kṣātra conduct.

No explicit phalaśruti is presented here; the meta-sense is conveyed through Saṃjaya’s evaluative narration of extraordinary battle intensity and the implied significance of understanding command nīti within the epic’s broader dharma–karma framework.