
शोक-शमन उपदेशः (Instruction on the Pacification of Grief)
Upa-parva: Vidura–Dhṛtarāṣṭra Śoka-śamana Saṃvāda (Consolation Discourse)
Dhṛtarāṣṭra states that Vidura’s well-formed counsel has reduced his grief and asks how learned persons free themselves from mental suffering arising from association with the undesirable and separation from the desirable (1–2). Vidura answers by describing a method of inner release: as the mind repeatedly disengages from both pleasure and pain, the wise attain śama and a ‘good course’ (sugati) (3). He grounds this in an analysis of impermanence: the world is unstable and lacks enduring essence, likened to a banana plant (4). The body is treated as a temporary dwelling, reassigned by time, while moral agency (sattva) is the commendable constant (5). He uses the garment metaphor—discarding old or unsuitable clothes—to explain embodiment and change (6). Experience of pleasure and pain is presented as the result of one’s own actions (svakṛta-karma), with karma bearing its load whether one feels in control or not (7–8). A sustained pottery analogy illustrates fragility at every stage of formation and use, paralleling bodily vulnerability across conditions (9–11). Mortality is shown to operate across all life stages—from womb to infancy to youth, midlife, and old age (12–13). Vidura concludes that beings arise and cease due to prior actions; therefore lamentation is conceptually misdirected in a world governed by such causality (14). He adds a saṃsāra metaphor of repeatedly surfacing and sinking in water; the unreflective are bound and afflicted by karmic enjoyment, while the wise, established in truth and understanding meetings and separations, proceed to the highest end (15–17).
Chapter Arc: कुरु-गृह पर शोक का घना आवरण है; धृतराष्ट्र अपने पुत्रों के विनाश से व्याकुल हैं, और विदुर शोक-निवारण के लिए अनित्यता का कठोर, पर करुण उपदेश आरम्भ करते हैं। → विदुर मन को दुःख-सुख के आवेगों से बार-बार खींचकर शान्ति में स्थिर करने की शिक्षा देते हैं—और फिर श्मशान की समता दिखाते हैं: विद्वान-मूर्ख, धनवान-निर्धन, सब अंततः एक ही ‘पितृवन’ में पहुँचते हैं; देह का भेद वहाँ मिट्टी, अस्थि और स्नायु में विलीन हो जाता है। → मिट्टी के बर्तन का दृष्टान्त चरम पर पहुँचता है—घड़ा चाक पर चढ़ते ही टूट सकता है, आधा बनकर, पूरा बनकर, काटे जाने पर, उतारे जाने पर; वैसे ही जीवन किसी भी क्षण टूट सकता है। तत्पश्चात संसार-समुद्र का रूपक आता है: क्रीड़ा में तैरता प्राणी जैसे कभी डूबता-कभी उभरता है, वैसे ही जीव कर्म-भोग के बन्धन से इस गहन संसार में उन्मज्जन-निमज्जन करता है। → विदुर का निष्कर्ष स्पष्ट है—जो बुद्धिमान है वह मन को संयमित कर, अनित्यता को स्वीकार कर, शोक का त्याग कर शान्ति प्राप्त करे; धृतराष्ट्र को भी यही मार्ग अपनाने का आग्रह है। → धृतराष्ट्र के भीतर यह उपदेश कितनी गहराई तक उतरता है—और क्या शोक सचमुच शान्त होगा—यह अगले प्रसंग की ओर कथा को धकेल देता है।
Verse 1
अपने-आप छा अर: तृतीयो<थध्याय: विदुरजीका शरीरकी अनित्यता बताते हुए धृतराष्ट्रको शोक त्यागनेके लिये कहना धृतराष्ट्र रवाच सुभाषितैर्महाप्राज्ञ शोको5यं विगतो मम । भूय एव तु वाक्यानि श्रोतुमिच्छामि तत्त्वतः,धृतराष्ट्र बोले--परम बुद्धिमान विदुर! तुम्हारा उत्तम भाषण सुनकर मेरा यह शोक दूर हो गया, तथापि तुम्हारे इन ताक््चिक वचनोंको मैं अभी और सुनना चाहता हूँ
Dhṛtarāṣṭra nói: “Hỡi Vidura, bậc đại trí! Nhờ lời lẽ thiện mỹ của khanh mà nỗi sầu này của trẫm đã tan. Tuy vậy, trẫm vẫn muốn được nghe thêm những lời của khanh—đúng như thật và theo nghĩa chân thực của chúng.”
Verse 2
इस प्रकार श्रीमह्याभारत स्त्रीपर्वके अन्तर्गत जलप्रदानिकपर्वमें धृतराष्ट्रके शोकका निवारणविषयक दूसरा अध्याय पूरा हुआ,अनिष्टानां च संसर्गादिष्टानां च विसर्जनात् | कथं हि मानसैर्दु:खै: प्रमुच्यन्ते तु पण्डिता: विद्वान् पुरुष अनिष्टके संयोग और इष्टके वियोगसे होनेवाले मानसिक दुःखोंसे किस प्रकार छुटकारा पाते हैं?
Vidura hỏi: Do phải gần gũi điều không ưa và phải lìa xa điều yêu quý, khổ não trong tâm tất yếu phát sinh. Bằng sự hiểu biết và kỷ luật nào mà bậc trí có thể giải thoát khỏi nỗi sầu nội tâm ấy?
Verse 3
विदुर उवाच यतो यतो मनो दुःखात् सुखादू वा विप्रमुच्यते । ततस्ततो नियम्यैतच्छान्तिं विन्देत वै बुध:,विदुरजीने कहा--महाराज! विद्वान् पुरुषको चाहिये कि जिन-जिन साथनोंमें लगनेसे मन दुःख अथवा सुखसे मुक्त होता हो, उन्हींमें इसे नियमपूर्वक लगाकर शान्ति प्राप्त करे जो बुद्धिमान् मानव इस संसारमें सत्त्वगुणसे युक्त, सबका हित चाहनेवाले और प्राणियोंके समागमको कर्मानुसार समझनेवाले हैं, वे परम गतिको प्राप्त होते हैं ।। इति श्रीमहाभारते स्त्रीपर्वणि जलप्रदानिकपर्वणि धृतराष्ट्रविशोककरणे तृतीयो<डध्याय:
Vidura nói: “Tâu Đại vương, nơi nào tâm tìm được sự thoát khỏi khổ—thậm chí khỏi cả lạc—thì ngay nơi ấy hãy có ý thức chế ngự và đặt tâm vào. Nhờ kỷ luật đưa tâm theo những hướng lành như vậy, bậc trí thật sự đạt được an tịnh.”
Verse 4
अशाश्रृतमिदं सर्व चिन्त्यमानं नरर्षभ | कदलीसंनिभो लोक: सारो हास्य न विद्यते,नरश्रेष्ठ विचार करनेपर यह सारा जगत् अनित्य ही जान पड़ता है। सम्पूर्ण विश्व केलेके समान सारहीन है; इसमें सार कुछ भी नहीं है
Vidura nói: “Hỡi bậc trượng phu giữa loài người, khi suy ngẫm sẽ thấy toàn thể thế gian này đều vô thường. Thế gian như thân cây chuối—không có lõi bền chắc; trong đó chẳng tìm được cốt tủy trường tồn.”
Verse 5
यदा प्राज्ञाश्न मूढाश्न धनवन्तो5थ निर्धना: । सर्वे पितृवनं प्राप्प स्वपन्ति विगतज्वरा:,जब दिद्वान्-मूर्ख, धनवान् और निर्धन सभी श्मशान-भूमिमें जाकर निश्चिन्त सो जाते हैं, उस समय उनके मांसरहित नाड़ियोंसे बँधे हुए तथा अस्थिबहुल अंगोंको देखकर क्या दूसरे लोग वहाँ उनमें कोई ऐसा अन्तर देख पाते हैं, जिससे वे उनके कुल और रूपकी विशेषताको समझ सकें; फिर भी वे मनुष्य एक-दूसरेको क्यों चाहते हैं? इसलिये कि उनकी बुद्धि ठगी गयी है
Khi bậc trí và kẻ ngu, người giàu và kẻ nghèo—tất thảy như nhau—đến «khu rừng của tổ tiên» (bãi hỏa táng) và nằm xuống đó, thoát khỏi mọi cơn sốt sắng của sự tranh đua, thì ai còn có thể nhận ra nơi họ một khác biệt nào để biết dòng dõi, nhan sắc hay địa vị? Thế mà con người vẫn bám víu vào nhau, kết chặt ái luyến như thể những khác biệt ấy bền lâu—bởi tri kiến của họ đã bị mê lầm đánh lừa.
Verse 6
निर्मासैरस्थिभूयिष्ठेगात्रि: सनायुनिबन्धनै: । कि विशेषं प्रपश्यन्ति तत्र तेषां परे जना:,जब दिद्वान्-मूर्ख, धनवान् और निर्धन सभी श्मशान-भूमिमें जाकर निश्चिन्त सो जाते हैं, उस समय उनके मांसरहित नाड़ियोंसे बँधे हुए तथा अस्थिबहुल अंगोंको देखकर क्या दूसरे लोग वहाँ उनमें कोई ऐसा अन्तर देख पाते हैं, जिससे वे उनके कुल और रूपकी विशेषताको समझ सकें; फिर भी वे मनुष्य एक-दूसरेको क्यों चाहते हैं? इसलिये कि उनकी बुद्धि ठगी गयी है
Vidura nói: «Khi thân xác nằm nơi bãi hỏa táng—không còn thịt, phần nhiều chỉ là xương, chỉ còn gân níu giữ—thì người khác còn thấy được dấu hiệu phân biệt nào ở đó? Ai còn nhận ra dòng dõi, nhan sắc hay địa vị? Vậy mà khi sống, con người vẫn bám víu vào nhau, kết chặt ái luyến như thể những khác biệt ấy là thật—bởi tri kiến của họ đã bị lừa dối.»
Verse 7
येन प्रत्यवगच्छेयु: कुलरूपविशेषणम् | कस्मादन्योन्यमिच्छन्ति विप्रलब्धधियो नरा:,जब दिद्वान्-मूर्ख, धनवान् और निर्धन सभी श्मशान-भूमिमें जाकर निश्चिन्त सो जाते हैं, उस समय उनके मांसरहित नाड़ियोंसे बँधे हुए तथा अस्थिबहुल अंगोंको देखकर क्या दूसरे लोग वहाँ उनमें कोई ऐसा अन्तर देख पाते हैं, जिससे वे उनके कुल और रूपकी विशेषताको समझ सकें; फिर भी वे मनुष्य एक-दूसरेको क्यों चाहते हैं? इसलिये कि उनकी बुद्धि ठगी गयी है
Vidura nói: Bằng dấu hiệu nào người ta có thể thật sự phân biệt dòng dõi và nhan sắc? Khi kẻ học và người ngu, kẻ giàu và người nghèo đều đến bãi hỏa táng và nằm xuống đó không còn bận lòng—chỉ còn những chi thể đầy xương, không thịt, được gân níu giữ—ai còn thấy được khác biệt nào giữa họ? Thế mà con người vẫn ham muốn nhau. Ấy là vì trí họ đã bị lừa dối.
Verse 8
गृहाणीव हि मर्त्यानामाहुर्देहानि पण्डिता: । कालेन विनियुज्यन्ते सत्त्वमेकं॑ तु शाश्वतम्,पण्डितलोग मरणधर्मा प्राणियोंके शरीरोंको घरके तुल्य बतलाते हैं; क्योंकि सारे शरीर समयपर नष्ट हो जाते हैं, किंतु उसके भीतर जो एकमात्र सत्त्वस्वरूप आत्मा है, वह नित्य है
Các bậc hiền triết nói: thân xác của loài hữu tử chỉ như một ngôi nhà; bởi mọi thân đều bị thời gian phân rã, còn thực thể duy nhất ở bên trong—Atman, tự ngã—thì thường hằng.
Verse 9
यथा जीर्णमजीर्ण वा वस्त्र त्यक्त्वा तु पूरुष: अन्यद् रोचयते वस्त्रमेवं देहा: शरीरिणाम्,जैसे मनुष्य नये अथवा पुराने वस्त्रको उतारकर दूसरे नूतन वस्त्रको पहननेकी रुचि रखता है, उसी प्रकार देहधारियोंके शरीर उनके द्वारा समय-समयपर त्यागे और ग्रहण किये जाते हैं
Như người ta cởi bỏ áo quần mới hay cũ rồi ưa mặc một áo khác, cũng vậy: kẻ mang thân xác lần lượt bỏ thân này và nhận thân khác theo từng thời kỳ.
Verse 10
वैचित्रवीर्य प्राप्पं हि दुः:खं वा यदि वा सुखम् । प्राप्रुवन्तीह भूतानि स्वकृतेनैव कर्मणा,विचित्रवीर्यनन्दन! यदि दुःख या सुख प्राप्त होनेवाला है तो प्राणी उसे अपने किये हुए कर्मके अनुसार ही पाते हैं
Hỡi hậu duệ của Vicitravīrya! Dẫu nỗi khổ hay niềm vui đến với một người có bị nói là “định mệnh” của dòng Vicitravīrya đi nữa, thì chúng sinh trong đời này thật sự chỉ nhận lấy theo chính nghiệp do mình tạo. Vậy phải hiểu rằng lạc và khổ phát sinh từ hành động của bản thân, chứ không do huyết thống hay sự ngẫu nhiên.
Verse 11
कर्मणा प्राप्यते स्वर्ग: सुखं दु:खं च भारत । ततो वहति त॑ भारमवश: स्ववशो5पि वा,भरतनन्दन! कर्मके अनुसार ही परलोकमें स्वर्ग या नरक तथा इहलोकमें सुख और दुःख प्राप्त होते हैं; फिर मनुष्य सुख या दुःखके उस भारको स्वाधीन या पराधीन होकर ढोता रहता है
Vidura nói: “Hỡi Bhārata, chính do nghiệp của mình mà người ta đạt thiên giới, và cũng do nghiệp mà nhận lấy lạc và khổ. Rồi sau đó, con người mang gánh nặng ấy—gánh nặng của hạnh phúc hay khổ đau—khi thì bất lực bị cuốn đi, khi thì ngay cả lúc tưởng mình đang tự chủ, hỡi niềm vui của dòng Bhārata.”
Verse 12
यथा च मृण्मयं भाण्डं चक्रारूढं विपद्यते | किंचित् प्रक्रियमाणं वा कृतमात्रमथापि वा
Như chiếc bình đất đặt trên bàn xoay của thợ gốm có thể vỡ nát—dù mới chỉ được nắn sơ, hay đang còn trong quá trình tạo hình, hoặc thậm chí vừa mới làm xong—thì cũng vậy, điều mong manh và mới dựng nên có thể bị phá hủy trong chớp mắt.
Verse 13
छिन्न॑ वाप्यवरोप्यन्तमवतीर्णमथापि वा । आदी वाप्यथवा शुष्क॑ पच्यमानमथापि वा
Dẫu bị chém ngã, bị lôi đi, hay đã gục xuống; dẫu đang bốc cháy, hay khô kiệt mà bị thiêu đốt—trong cảnh cùng cực như thế, bậc trí vẫn không rời bỏ con đường chánh hạnh.
Verse 14
उत्तार्यमाणमापाकादुद्धृतं चापि भारत । अथवा परिभुज्यन्तमेवं देहा: शरीरिणाम्
Vidura nói: “Hỡi Bhārata, thân xác của kẻ hữu tình giống như vật bị nhấc ra khỏi nồi đang nấu, hoặc như thứ bị ăn dùng đến cạn kiệt. Vì thế, thân thể của chúng sinh luôn ở trong cảnh bị kéo ra, bị hao mòn và bị hủy diệt.”
Verse 15
जैसे मिट्टीका बर्तन बनाये जानेके समय कभी चाकपर चढ़ाते ही नष्ट हो जाता है, कभी कुछ-कुछ बननेपर, कभी पूरा बन जानेपर, कभी सूतसे काट देनेपर, कभी चाकसे उतारते समय, कभी उतर जानेपर, कभी गीली या सूखी अवस्थामें, कभी पकाये जाते समय, कभी आवाँसे उतारते समय, कभी पाकस्थानसे उठाकर ले जाते समय अथवा कभी उसे उपयोगमें लाते समय फूट जाता है; ऐसी ही दशा देहधारियोंके शरीरोंकी भी होती है ।। गर्भस्थो वा प्रसूतो वाप्यथ वा दिवसान्तर: । अर्धमासगतो वापि मासमात्रगतो5पि वा,कोई गर्भमें रहते समय, कोई पैदा हो जानेपर, कोई कई दिनोंका होनेपर, कोई पंद्रह दिनका, कोई एक मासका तथा कोई एक या दो सालका होनेपर, कोई युवावस्थामें, कोई मध्यावस्थामें अथवा कोई वृद्धावस्थामें पहुँचनेपर मृत्युको प्राप्त हो जाता है
Vidura nói: Cũng như một chiếc bình đất sét, trong lúc được nặn, có thể vỡ ở bất cứ điểm nào—ngay khi vừa đặt lên bàn xoay, khi mới thành hình đôi chút, khi đã thành hình trọn vẹn, khi bị cắt rời bằng sợi chỉ, lúc nhấc khỏi bàn xoay, sau khi đã lấy xuống, khi còn ướt hay khi đã khô, lúc đem nung, khi lấy ra khỏi lò, khi mang đi khỏi nơi nung, hoặc thậm chí khi đem ra sử dụng—thì thân phận của những kẻ mang thân cũng như vậy: thân thể có thể hoại diệt ở bất kỳ giai đoạn nào. Có kẻ chết khi còn trong bụng mẹ; có kẻ chết lúc chào đời; có kẻ chết sau vài ngày; có kẻ chết khi được nửa tháng; có kẻ chết khi được một tháng (và cũng vậy ở những tuổi về sau).
Verse 16
संवत्सरगतो वापि द्विसंवत्सर एव वा | यौवनस्थो<5थ मध्यस्थो वृद्धों वापि विपद्यते,कोई गर्भमें रहते समय, कोई पैदा हो जानेपर, कोई कई दिनोंका होनेपर, कोई पंद्रह दिनका, कोई एक मासका तथा कोई एक या दो सालका होनेपर, कोई युवावस्थामें, कोई मध्यावस्थामें अथवा कोई वृद्धावस्थामें पहुँचनेपर मृत्युको प्राप्त हो जाता है
Vidura nói: Cái chết không đợi một giai đoạn cố định nào của đời người: có kẻ mất khi mới một tuổi, thậm chí hai tuổi; kẻ khác chết lúc thanh xuân; kẻ khác chết ở tuổi trung niên; và kẻ khác nữa chết khi đã già.
Verse 17
प्राक्कर्मभिस्तु भूतानि भवन्ति न भवन्ति च । एवं सांसिद्धिके लोके किमर्थमनुतप्यसे,प्राणी पूर्वजन्मके कर्मोके अनुसार ही इस जगत्में रहते और नहीं रहते हैं। जब लोककी ऐसी ही स्वाभाविक स्थिति है, तब आप किसलिये शोक कर रहे हैं?
Vidura nói: “Muôn loài hiện hữu—rồi cũng không còn—tùy theo nghiệp đã tạo từ trước. Khi thế gian vận hành theo quy luật tự nhiên và tất yếu ấy, do hành động quá khứ định hình, cớ sao ngài còn bừng cháy trong sầu khổ?”
Verse 18
यथा तु सलिलं राजन् क्रीडार्थमनुसंतरत् । उन्मज्जेच्च निमज्जेच्च किंचित् सत्त्वं नराधिप
Tâu Đại vương, như một sinh vật nhỏ nô đùa trong nước, khi thì trồi lên mặt, khi thì lại chìm xuống—cũng vậy, một hữu tình bị hoàn cảnh và dục vọng thúc đẩy, lúc nổi lên trong chốn hiển đạt, lúc lại rơi về nơi mờ khuất.
Verse 19
एवं संसारगहने उन््मज्जननिमज्जने । कर्मभोगेन बध्यन्ते क्लिश्यन्ते चाल्पबुद्धय:
Vì thế, trong khu rừng rậm của luân hồi—trồi lên rồi chìm xuống—kẻ ít trí bị trói buộc bởi quả báo của chính nghiệp mình và luôn bị khổ não dày vò.
Verse 20
राजन! नरेश्वर! जैसे क्रीडाके लिये पानीमें तैरता हुआ कोई प्राणी कभी डूबता है और कभी ऊपर आ जाता है, इसी प्रकार इस अगाध संसार-समुद्रमें जीवोंका डूबना और उतराना (मरना और जन्म लेना) लगा रहता है, मन्दबुद्धि मनुष्य ही यहाँ कर्मभोगसे बँधते और वष्ट पाते हैं ।। ये तु प्राज्ञा: स्थिता: सत्त्वे संसारेडस्मिन् हितैषिण: । समागमज्ञा भूतानां ते यान्ति परमां गतिम्
Vidura nói: “Tâu Đại vương, chúa tể của loài người! Như một sinh vật bơi trong nước để vui chơi, khi thì chìm xuống, khi thì lại nổi lên, cũng vậy trong biển cả thăm thẳm của luân hồi, chúng sinh không ngừng chìm nổi—chết rồi lại sinh. Chỉ kẻ trí tối mới bị trói buộc bởi sự thọ báo của chính nghiệp mình và đi đến diệt vong. Còn những bậc trí giả, an trú trong thanh tịnh, là người thiện tâm giữa đời, hiểu rõ sự hội tụ và ly tán của muôn loài—những người ấy đạt đến cứu cánh tối thượng.”
Dhṛtarāṣṭra’s dilemma is how to ethically and psychologically respond to loss: whether grief should govern the mind when separation and association are structurally unavoidable in an impermanent world shaped by prior action.
The chapter teaches that repeated mental disengagement from both sukha and duḥkha, supported by insight into impermanence and karmic causality, yields śama; this composure differentiates the wise from those bound by reactive experience.
No explicit phalaśruti is stated here; the implied meta-point is soteriological: understanding impermanence, karma, and the mechanics of saṃsāra supports movement toward ‘paramā gati’ (the highest end) by reducing attachment-driven affliction.