Adhyaya 14
Karna ParvaAdhyaya 1449 Versesद्वंद्व-केन्द्रित और अनिर्णीत; क्षणिक रूप से कौरव पक्ष को राहत (अश्वत्थामा को सुरक्षित हटाया गया), पर समग्र पलड़ा स्पष्ट नहीं।

Adhyaya 14

कर्णपर्व — चतुर्दशोऽध्यायः (Arjuna’s Suppression of the Saṃśaptakas; Kṛṣṇa’s Strategic Admonition; Battlefield Inventory)

Upa-parva: Saṃśaptaka-vadha and Battlefield Survey (Arjuna–Kṛṣṇa Episode)

Sañjaya reports that Arjuna, returning to the engagement, strikes down many Saṃśaptaka combatants with rapid, technically varied archery—severing weapons, arms, and heads, disabling chariots and mounts, and dispersing converging units. The narrative emphasizes the density of incoming attacks and Arjuna’s countering of missiles with missiles, producing a swift collapse of enemy mobility and cohesion. Kṛṣṇa addresses Arjuna directly, questioning the delay and instructing him to crush the Saṃśaptakas and hasten toward the objective of Karṇa’s confrontation. As they move, Kṛṣṇa draws Arjuna’s attention to the battlefield’s accumulated remains: discarded bows and quivers, broken armor, diverse weapons, fallen standards, and the bodies of men, horses, and elephants. This descriptive survey functions as a documentary register of war’s material culture and as a moral-phenomenological frame, highlighting the scale of loss, the transformation of royal splendor into wreckage, and the strategic urgency continuing within a landscape of devastation.

Chapter Arc: संजय धृतराष्ट्र को सुनाते हैं कि रणभूमि में द्रोणपुत्र अश्वत्थामा ने भीमसेन को लक्ष्य कर मर्मज्ञ की भाँति तीक्ष्ण बाणों की वर्षा आरम्भ की—और युद्ध का रंग एकाएक ‘अद्भुत’ हो उठा। → अश्वत्थामा नव्वे-नव्वे तीखे शरों से भीम को बार-बार आघात करता है; भीम भी प्रत्युत्तर में ऐसे बाण छोड़ता है कि दिशाएँ प्रकाशित-सी होने लगती हैं। अस्त्र-प्रतिअस्त्र का घोर प्रवाह बढ़ता जाता है; आकाश उल्कापात-सा, और शर-संघर्ष से चिनगारियों व ज्वालाओं का दृश्य दोनों सेनाओं पर भय का आवरण डाल देता है। → दोनों महाबली एक-दूसरे पर प्रचण्ड अस्त्रयुद्ध चलाते हुए सीमा पर पहुँचते हैं—देव, सिद्ध और महर्षि तक ‘साधु द्रौणे, साधु भीमे’ कहकर प्रशंसा करते हैं; अंततः घोर प्रहारों के बीच दोनों योद्धा मूर्च्छित हो जाते हैं और रणभूमि क्षण भर के लिए स्तब्ध-सी पड़ जाती है। → अश्वत्थामा को अचेत देखकर उसका सारथि समस्त सेना के देखते-देखते उसे रण से हटा ले जाता है; भीम भी बाण-वर्षा के बाद थकान/आघात के प्रभाव से संभलता है—पर युद्ध का उन्माद थमता नहीं, केवल अगले प्रहार के लिए साँस भरता है। → मूर्च्छा और उद्धार के बाद भी प्रश्न खुला रह जाता है—अगला आवेग किस ओर झुकेगा: भीम की प्रतिशोधाग्नि या द्रोणपुत्र की क्रोध-प्रतिज्ञा?

Shlokas

Verse 1

््ज-्अ ्ःः बछ। जज :अ पजञ्चदशो<् ध्याय: अश्वत्थामा और भीमसेनका अदभुत युद्ध तथा दोनोंका मूर्च्छित हो जाना संजय उवाच भीमसेनं ततो द्रौणी राजन्‌ विव्याध पत्रिणा । परया त्वरया युक्तो दर्शयन्नस्त्रलाघवम्‌,संजय कहते हैं--राजन्‌! तदनन्तर द्रोणकुमार अश्वत्थामाने बड़ी उतावलीके साथ अस्त्र चलानेमें अपनी फुर्ती दिखाते हुए एक बाणसे भीमसेनको बींध डाला

Sañjaya nói: Tâu Đại vương, sau đó Aśvatthāmā, con trai của Droṇa, trong cơn gấp gáp dữ dội và phô bày sự lanh lẹ tinh thông về binh khí, đã dùng một mũi tên duy nhất xuyên trúng Bhīmasena.

Verse 2

अथीैनं पुनराजघ्ने नवत्या निशितै: शरै: । सर्वमर्माणि सम्प्रेक्ष्य मर्मज्ञो लघुहस्तवत्‌,फिर शीघ्रतापूर्वक हाथ चलानेवाले कुशल योद्धाके समान मर्मज्ञ अश्वत्थामाने भीमसेनके सारे मर्मस्थानोंको लक्ष्य करके पुनः उनपर नब्बे तीखों बाणोंका प्रहार किया

Sañjaya nói: Rồi lại nữa, hắn đánh trúng chàng bằng chín mươi mũi tên sắc như dao. Nhắm thẳng mọi yếu huyệt, Aśvatthāmā—kẻ am tường chỗ hiểm và ra tay nhanh như một chiến binh lão luyện—liên tiếp công kích Bhīmasena với ý chí sát phạt chuẩn xác.

Verse 3

भीमसेन: समाकीर्णो द्रौणिना निशितै: शरै: । रराज समरे राजन्‌ रश्मिवानिव भास्कर:,राजन! अभश्व॒त्थामाके तीखे बाणोंसे समरांगणमें आच्छादित हुए भीमसेन किरणोंवाले सूर्यके समान सुशोभित होने लगे

Sañjaya nói: Tâu Đại vương, Bhīmasena, bị những mũi tên sắc của Drauṇi (Aśvatthāmā) phủ kín giữa chiến địa, vẫn rực sáng trong trận như mặt trời tỏa muôn tia.

Verse 4

तत:ः शरसहस्रेण सुप्रयुक्तेन पाण्डव: । द्रोणपुत्रमवच्छाद्य सिंहनादममुज्चत,तदनन्तर पाण्डुपुत्र भीमने अच्छी तरह चलाये हुए एक हजार बाणोंसे द्रोणपुत्रको आच्छादित करके घोर सिंहनाद किया

Sañjaya nói: Rồi Pāṇḍava (Bhīma) dùng một nghìn mũi tên bắn chuẩn, phủ kín con trai Droṇa (Aśvatthāmā), và cất lên tiếng gầm sư tử dữ dội.

Verse 5

शरै: शरांस्ततो द्रौणि: संवार्य युधि पाण्डवम्‌ । ललाटे< भ्याहनद्‌ राजन्‌ नाराचेन स्मयन्निव

Sañjaya nói: Rồi con trai Droṇa, lấy mưa tên chặn lại Pāṇḍava giữa trận, đã bắn một mũi nārāca trúng ngay trán chàng, như thể mỉm cười khinh miệt.

Verse 6

राजन! अश्वत्थामाने अपने बाणोंसे भीमसेनके बाणोंका निवारण करके युद्धस्थलमें उन पाण्डुपुत्रके ललाटमें मुसकराते हुए-से एक नाराचका प्रहार किया ।। ललाटस्थं ततो बाणं धारयामास पाण्डव: | यथा शड्ूं वने दृप्त: खड्गो धारयते नूप,नरेश्वर! जैसे वनमें बलोन्मत्त गेंड़ा सींग धारण करता है, उसी प्रकार पाण्डुपुत्र भीमने अपने ललाठमें धँसे हुए उस बाणको धारण कर रखा था

Sañjaya thưa: “Tâu Đại vương! Aśvatthāmā dùng chính mũi tên của mình gạt phá mũi tên của Bhīmasena, rồi giữa chiến địa, như thể mỉm cười, bắn một mũi nārāca vào trán người con của Pāṇḍu; mũi tên ấy cắm chặt nơi vầng trán. Khi ấy, vị Pāṇḍava vẫn mang mũi tên ghim trên mày trán—tâu bậc chúa tể loài người—như con tê giác kiêu hùng trong rừng mang chiếc sừng của nó.”

Verse 7

ततो द्रौणिं रणे भीमो यतमानं पराक्रमी । त्रिभिविंव्याध नाराचैर्ललाटे विस्मयन्निव,तत्पश्चात्‌ पराक्रमी भीमसेनने रणभूमिमें विजयके लिये प्रयत्नशील अश्व॒त्थामाके ललाटमें भी मुसकराते हुए-से तीन नाराचोंका प्रहार किया

Sañjaya thưa: “Rồi giữa trận tiền, Bhīma dũng mãnh đã bắn vào Drauṇi—Aśvatthāman, con của Droṇa—kẻ đang gắng sức giành thắng lợi, ba mũi nārāca trúng ngay trán, như thể vừa kinh ngạc vừa nở một nụ cười lạnh lùng.”

Verse 8

ललाटस्थैस्ततो बाणै्राह्रिणोडसौ व्यशोभत । प्रावषीव यथा सिक्तस्त्रिशुद्भ: पर्वतोत्तम:,ललाटमें धँँसे हुए उन तीनों बाणोंद्वारा वह ब्राह्मण वर्षाकालमें भीगे हुए तीन शिखरोंवाले उत्तम पर्वतके समान अद्भुत शोभा पाने लगा

Sañjaya thưa: “Khi ấy, với ba mũi tên cắm trên trán, người ấy bỗng toả ra một vẻ rực rỡ lạ lùng—tựa ngọn núi cao tuyệt mỹ ba đỉnh, đẫm ướt trong mưa mùa gió.”

Verse 9

ततः शरशतैद्रौणिर्दयामास पाण्डवम्‌ | न चैनं कम्पयामास मातरिश्वेव पर्वतम्‌,तब अअश्वत्थामाने सैकड़ों बाणोंसे पाण्डुपुत्र भीमसेनको पीड़ित किया; परंतु जैसे हवा पर्वतको नहीं हिला सकती, उसी प्रकार वह उन्हें कम्पित न कर सका

Sañjaya thưa: “Rồi Drauṇi (Aśvatthāman) bắn dồn dập hàng trăm mũi tên vào vị Pāṇḍava khiến chàng đau đớn; nhưng vẫn không thể làm chàng lay chuyển dù chỉ một chút—như gió chẳng thể xô dời núi.”

Verse 10

तथैव पाण्डवो युद्धे द्रौर्णि शरशतै: शितै: । नाकम्पयत संहृष्टो वार्योच इव पर्वतम्‌,इसी प्रकार हर्ष और उत्साहमें भरे हुए पाण्डुपुत्र भीमसेन भी युद्धमें सैकड़ों तीखे बाणोंका प्रहार करके द्रोणपुत्र अश्वत्थामाको विचलित न कर सके। ठीक उसी तरह, जैसे जलका महान्‌ प्रवाह किसी पर्वतको हिला-डुला नहीं सकता

Sañjaya thưa: “Cũng vậy, giữa chiến trận, vị Pāṇḍava—Bhīmasena—hân hoan và bừng bừng khí thế, dù bắn hàng trăm mũi tên sắc nhọn vào Aśvatthāman, con của Droṇa, vẫn không thể làm hắn nao núng; như dòng nước cuồn cuộn cũng chẳng khiến núi rung chuyển.”

Verse 11

तावन्योन्यं शरैघोरिश्छादयानौ महारथौ । रथवर्यगतौ वीरौ शुशुभाते बलोत्कटौ,वे दोनों बलोन्मत्त महारथी वीर श्रेष्ठ रथोंपर बैठकर एक-दूसरेको भयंकर बाणोंद्वारा आच्छादित करते हुए बड़ी शोभा पा रहे थे

Sañjaya nói: Hai dũng tướng xa chiến ấy, mỗi người trút lên đối phương mưa tên ghê rợn, đứng trên những cỗ chiến xa tuyệt hảo của mình mà rực sáng—anh hùng, sức mạnh áp đảo—giữa cuộc giao tranh dữ dội.

Verse 12

आदित्याविव संदीप्तौ लोकक्षयकरावुभौ । स्वरश्मिभिरिवान्योन्यं तापयन्तौ शरोत्तमै:,जैसे सम्पूर्ण लोकोंका विनाश करनेके लिये उगे हुए दो तेजस्वी सूर्य अपनी किरणोंद्वारा परस्पर ताप दे रहे हों, उसी प्रकार वे दोनों वीर अपने उत्तम बाणोंद्वारा एक- दूसरेको संतप्त कर रहे थे

Cả hai bừng cháy như hai mặt trời rực lửa, tưởng chừng sinh ra để diệt tận thế gian. Bằng những mũi tên thượng hạng, hai dũng sĩ thiêu đốt lẫn nhau, như hai mặt trời dùng chính tia sáng của mình mà nung nóng đối phương.

Verse 13

ततः प्रतिकृते यत्नं कुर्वाणी तो महारणे । कृतप्रतिकृते यत्तो शरसड्घैरभीतवत्‌

Sañjaya nói: Rồi trong trận đại chiến ấy, quyết trả đũa điều đã chịu, một lòng đáp lại đòn nào đòn nấy, chàng thúc mạnh cuộc phản công bằng những loạt tên dồn dập, không hề nao núng.

Verse 14

इस प्रकार श्रीमह्याभारत कर्णपर्वमें चित्रसेन और चित्रका वधविषयक चौदहवाँ अध्याय पूरा हुआ,उस महासमरमें बदला लेनेका यत्न करते हुए वे दोनों योद्धा निर्भय-से होकर अपने बाणसमूहोंद्वारा परस्पर अस्त्रोंके घात-प्रतिघातके लिये प्रयत्नशील थे ।। व्याप्राविव च संग्रामे चेरतुस्तौ नरोत्तमौ | शरदंष्टौ दुराधर्षा चापवक्‍क्त्रौ भयंकरौ वे दोनों नरश्रेष्ठ संग्रामभूमिमें दो व्याप्रोंके समान विचर रहे थे, धनुष ही उन व्याप्रोंके मुख और बाण ही उनकी दाढ़ें थीं। वे दोनों ही दुर्धर्ष एवं भयंकर प्रतीत होते थे

Sañjaya nói: Trên chiến địa ấy, hai dũng tướng bậc nhất lượn qua lượn lại như một đôi hổ. Cung của họ như những miệng há rộng, tên của họ như nanh vuốt. Khó bề công phá, đáng sợ khi nhìn, họ giằng co nhau trong cuộc đổi đòn không dứt—mỗi người tìm cách đánh và đỡ, đánh trả và phản kích—bị thôi thúc bởi ngọn lửa báo thù giữa cuộc tàn sát lớn lao.

Verse 15

अभूतां तावदृश्यौ च शरजालै: समन्तत: । मेघजालैरिव च्छन्नौ गगने चन्द्रभास्करी,आकाशमें मेघोंकी घटासे आच्छादित हुए चन्द्रमा और सूर्यके समान वे दोनों वीर सब ओरसे बाणसमूहोंद्वारा ठककर अदृश्य हो गये थे इति श्रीमहाभारते कर्णपर्वणि अश्वत्थामभीमसेनयोर्युद्धे पजचदशो<5ध्याय:

Sañjaya nói: Trong một lúc, hai dũng sĩ ấy khuất khỏi tầm mắt, bị vây bọc bốn phía bởi một lưới tên dày đặc—như trăng và mặt trời trên trời khi bị những khối mây che phủ.

Verse 16

चकाशेते मुहूर्तेन ततस्तावप्यरिंदमौ । विमुक्तावभ्रजालेन अज्भञारकबुधाविव,फिर दो ही घड़ीमें मेघोंके आवरणसे मुक्त हुए मंगल और बुध नामक ग्रहोंके समान वे दोनों शत्रुदमन वीर एक दूसरेके बाणोंको नष्ट करके प्रकाशित होने लगे

Sañjaya nói: Rồi chỉ trong chốc lát, hai bậc khuất phục kẻ thù ấy lại rực sáng—như sao Hỏa và sao Thủy khi thoát khỏi lưới mây—sau khi đã gạt đỡ và triệt tiêu những mũi tên của nhau, hiện ra trở lại với uy lực và sự kiên định.

Verse 17

अथ तन्रैव संग्रामे वर्तमाने सुदारुणे । अपस॒व्य॑ ततश्नक्रे द्रौणिस्तत्र वृकोदरम्‌,इस प्रकार चलनेवाले उस भयंकर संग्राममें वहीं द्रोणपुत्र अश्वत्थामाने भीमसेनको अपने दाहिने भागमें कर दिया

Sañjaya nói: Khi trận chiến vô cùng khốc liệt ấy vẫn đang tiếp diễn, Drauṇi (Aśvatthāmā) xoay theo thế “apāsavya” (vòng trái, điềm chẳng lành), khéo điều động để Vṛkodara (Bhīma) nằm về phía tay phải của mình—tự đặt mình vào thế đối đầu quyết liệt giữa cơn hỗn loạn chiến trường.

Verse 18

किरन्‌ शरशतैरुग्रैर्धाराभिरिव पर्वतम्‌ । न तु तन्ममृषे भीम: शत्रोर्विजयलक्षणम्‌

Sañjaya nói: Trút xuống hàng trăm mũi tên dữ dội như thác mưa đổ lên núi, nhưng Bhīma vẫn không thể chịu nổi dấu hiệu báo rằng kẻ thù đang chiếm thế thắng.

Verse 19

फिर जैसे मेघ झलकी धाराओंसे पर्वतको ढक-सा देता है, उसी प्रकार भयंकर एवं सैकड़ों बाणोंद्वारा वह भीमसेनको आच्छादित करने लगा; परंतु भीमसेन शत्रुके इस विजयसूचक लक्षणको सहन न कर सके ।। प्रतिचक्रे ततो राजन्‌ पाण्डवो5प्यपसव्यत: । मण्डलानां विभागेषु गतप्रत्यागतेषु च,राजन! पाण्डुपुत्र भीमने भी गत-प्रत्यागत आदि मण्डलभागों (विभिन्न पैंतरों)-में अश्वत्थामाको दाहिने करके बदला चुका लिया

Sañjaya nói: Như mây mưa lóe sáng bởi những dòng nước, tưởng chừng che phủ cả ngọn núi, hắn đã vây phủ Bhīmasena tứ phía bằng hàng trăm mũi tên ghê gớm. Nhưng Bhīmasena không thể chịu nổi dấu hiệu báo kẻ thù đang tạm thời đắc thắng. Rồi, tâu Đại vương, người con Pandu cũng phản kích—xoay chuyển trái phải qua các phần của thế trận vòng tròn, những đợt tiến rồi lui—đưa Aśvatthāmā về phía tay phải mình và trả đũa đúng như thế.

Verse 20

बभूव तुमुल॑ युद्ध तयो: पुरुषसिंहयो: । चरित्वा विविधान्‌ मार्गान्‌ मण्डलस्थानमेव च,उन दोनों पुरुषसिंहोंमें मण्डलाकार घूमकर भाँति-भाँतिके पैंतरे दिखाते हुए भयंकर युद्ध होने लगा

Sañjaya nói: Một trận chiến dữ dội và náo động bùng lên giữa hai người hùng như sư tử ấy. Vừa xoay vòng theo thế trận, vừa đổi nhiều đường tiếp cận, họ phô bày đủ kiểu biến hóa khi giao tranh—mỗi bên thử thách kỹ nghệ và ý chí của bên kia trong kỷ luật chết chóc của chiến trường.

Verse 21

शरै: पूर्णायतोत्सूष्टैरन्योन्यमभिजषध्नतु: । अन्योन्यस्य वधे चैव चक्रतुर्यत्नमुत्तमम्‌,वे कानतक खींचकर छोड़े हुए बाणोंसे परस्पर चोट पहुँचाने और एक-दूसरेके वधके लिये भारी यत्न करने लगे

Sañjaya nói: Với những mũi tên được kéo căng hết mức rồi phóng đi bằng sức mạnh, hai người liên tiếp đánh trúng nhau, mỗi bên dốc trọn nỗ lực để đoạt mạng đối phương—một cuộc giằng co dữ dội phơi bày quyết tâm lạnh lùng của chiến tranh và sự căng thẳng đạo lý giữa bổn phận võ sĩ và khát vọng hủy diệt.

Verse 22

ईषतुर्विरथं चैव कर्तुमन्योन्यमाहवे । ततो द्रौणिर्महास्त्राणि प्रादुश्चक्रे महारथ:

Sañjaya nói: Giữa trận mạc, mỗi người đều tìm cách khiến đối phương thành kẻ mất xe chiến. Rồi con trai của Droṇa—vị đại xa chiến—đã phô bày những thần khí hùng mạnh, đẩy cuộc đấu từ tài nghệ võ trận thông thường sang việc sử dụng sức mạnh phi thường đầy hiểm họa.

Verse 23

ततो घोरं महाराज अस्त्रयुद्धमवर्तत

Sañjaya nói: “Rồi, hỡi đại vương, một cuộc chiến binh khí ghê rợn bùng nổ.” Câu ấy báo hiệu sự leo thang từ thế trận và thách đấu sang giao chiến sát phạt toàn diện, nơi sức nặng đạo lý của chiến tranh không thể né tránh, và hệ quả của lựa chọn cùng bổn phận đè lên mọi chiến binh.

Verse 24

ते बाणा: समसज्जन्त मुक्तास्ताभ्यां तु भारत

Sañjaya nói: Hỡi Bhārata, những mũi tên—được lắp vừa vặn và chuẩn bị sẵn—đã được cả hai phóng đi, khi bạo lực của trận chiến siết chặt thành cuộc so tài trực diện về kỹ nghệ và ý chí.

Verse 25

बाणसड्घैर्वृतं घोरमाकाशं समपद्यत

Sañjaya nói: Bầu trời trở nên ghê rợn, bị lấp đầy và che phủ hoàn toàn bởi vô số mũi tên—một hình ảnh về bạo lực ngập tràn của chiến tranh, nơi ý chí con người biến cả vòm trời thành cánh đồng của thương tổn.

Verse 26

बाणाभिघातात्‌ संजज्ञे तत्र भारत पावक:

Sañjaya nói: Hỡi Bhārata, tại nơi ấy, do sức va chạm của những mũi tên, một ngọn lửa rực cháy đã bùng lên. Trong bầu không khí đạo lý của chiến tranh, ngay cả vũ khí vốn nhằm giành thắng lợi cũng có thể trở thành nguyên nhân của sự tàn phá lan rộng, cho thấy bạo lực có thể tràn khỏi mục tiêu dự định và thiêu rụi cả kẻ có tội lẫn người vô tội.

Verse 27

तत्र सिद्धा महाराज सम्पतन्तो<ब्रुवन्‌ वच:,प्रभो! महाराज! उस समय वहाँ उड़कर आते हुए सिद्ध परस्पर इस प्रकार कहने लगे --“यह युद्ध तो सभी युद्धोंसे बढ़कर हो रहा है, अन्य सब युद्ध तो इसकी सोलहवीं कलाके भी बराबर नहीं थे

Sañjaya nói: Tại đó, hỡi đại vương, các Siddha từ trên trời hạ xuống đã nói với nhau những lời này: “Muôn tâu chúa thượng, muôn tâu đại vương! Trận chiến đang diễn ra này vượt trên mọi cuộc chiến; tất thảy những cuộc chiến trước kia cũng không bằng nổi một phần mười sáu của nó.”

Verse 28

युद्धानामति सर्वेषां युद्धमेतदिति प्रभो । सर्वयुद्धानि चैतस्य कलां नाहन्ति षोडशीम्‌,प्रभो! महाराज! उस समय वहाँ उड़कर आते हुए सिद्ध परस्पर इस प्रकार कहने लगे --“यह युद्ध तो सभी युद्धोंसे बढ़कर हो रहा है, अन्य सब युद्ध तो इसकी सोलहवीं कलाके भी बराबर नहीं थे

“Muôn tâu chúa thượng! Trận chiến này vượt trên mọi cuộc chiến; mọi cuộc chiến khác cũng không chạm tới nổi một phần mười sáu của nó.”

Verse 29

नेदृशं च पुनर्युद्धे भविष्पति कदाचन । अहो ज्ञानेन सम्पन्नावुभौ ब्राह्मणक्षत्रियौं,'ऐसा युद्ध फिर कभी नहीं होगा। ये ब्राह्मण और क्षत्रिय दोनों ही अद्भुत ज्ञानसे सम्पन्न हैं

Sañjaya nói: “Sẽ không bao giờ, vào bất cứ thời nào, lại có một trận chiến như thế. Than ôi—cả hai chiến sĩ này, mang phẩm chất của brāhmaṇa và kṣatriya cùng lúc, đều được ban cho sự minh triết phi thường; bởi vậy cuộc chiến này không chỉ là sự va chạm của binh khí, mà còn là cuộc hội ngộ hiếm có giữa trí tuệ và dũng lực.”

Verse 30

अहो शौर्येण सम्पन्नावुभौ चोग्रपराक्रमौ । अहो भीमबलो भीम एतस्य च कृतास्त्रता,“भयंकर पराक्रम दिखानेवाले ये दोनों योद्धा अद्भुत शौर्यशाली हैं। अहो! भीमसेनका बल भयंकर है। इनका अस्त्रज्ञान अद्भुत है!

Sañjaya nói: “Ôi kỳ diệu thay—cả hai chiến sĩ này đều đầy khí phách và sở hữu uy lực dữ dội, đáng sợ. Ôi! Sức mạnh của Bhīma thật ghê gớm, và sự tinh thông binh khí của người này cũng đáng kinh ngạc.” Trong bầu không khí đạo lý của chiến tranh, câu nói ấy cho thấy tài nghệ võ công phi thường vẫn có thể khiến người ta kinh phục ngay giữa cảnh tàn phá, đồng thời gợi nỗi trớ trêu bi thảm: những đức tính ấy đang bị tiêu phí trong cuộc tương tàn của huyết tộc.

Verse 31

अहो वीर्यस्य सारत्वमहो सौषछ्वमेतयो: । स्थितावेती हि समरे कालान्तकयमोपमौ,“अहो! इनके वीर्यकी सारता विलक्षण है। इन दोनोंका युद्धसौन्दर्य आश्चर्यजनक है। ये दोनों समरांगणमें कालान्तक एवं यमके समान जान पड़ते हैं

Sañjaya nói: “Ôi! Thật kỳ diệu thay tinh túy cô đọng của dũng lực nơi họ, và thật đáng kinh ngạc thay vẻ đẹp cùng sự xuất sắc trong màn phô diễn võ nghệ. Đứng đối diện nhau giữa chiến trường, hai người ấy hiện ra như chính Kālāntaka (Đấng kết liễu Thời gian) và Yama (Thần Chết).”

Verse 32

रुद्रौ द्वाविव सम्भूतौ यथा द्वाविव भास्करौ । यमौ वा पुरुषव्याप्रौ घोररूपावुभौ रणे,“ये भयंकर रूपधारी दोनों पुरुषसिंह रणभूमिमें दो रुद्र, दो सूर्य अथवा दो यमराजके समान प्रकट हुए हैं!

Sañjaya nói: “Hai vị anh hùng như sư tử ấy hiện ra trên chiến địa với hình tướng đáng sợ—như hai Rudra, như hai mặt trời, hoặc như đôi Yama—điềm báo của sự hủy diệt áp đảo trong cuộc giao tranh.”

Verse 33

इति वाच: सम श्रूयन्ते सिद्धानां वै मुहुर्मुहु: । सिंहनादश्न संजज्ञे समेतानां दिवौकसाम्‌,इस प्रकार सिद्धोंकी बातें वहाँ बारंबार सुनायी देती थीं। आकाशमें एकत्र हुए देवताओंका सिंहनाद भी प्रकट हो रहा था

Sañjaya nói: “Như thế, lời của các Siddha được nghe vang lên nơi ấy hết lần này đến lần khác; và giữa chư thiên tụ hội trên không trung, một tiếng gầm như sư tử cũng dấy lên.”

Verse 34

अद्भुतं चाप्यचिन्त्यं च दृष्टवा कर्म तयो रणे । सिद्धचारणसंघानां विस्मय: समपद्यत,रणभूमिमें उन दोनोंके अद्भुत एवं अचिन्त्य कर्मको देखकर सिद्धों और चारणोंके समूहोंको बड़ा विस्मय हो रहा था

Sañjaya nói: “Thấy những chiến công kỳ diệu, gần như không thể nghĩ bàn mà hai người ấy thực hiện giữa trận mạc, các đoàn Siddha và Cāraṇa tụ hội đều bị cuốn vào nỗi kinh ngạc. Cảnh tượng trên chiến địa khiến cả những chứng nhân cõi trời cũng phải sững sờ trước sức mạnh và ý chí phi thường đang hiển lộ.”

Verse 35

प्रशंसन्ति तदा देवा: सिद्धाक्ष परमर्षय: । साधु द्रौणे महाबाहो साधु भीमेति चाब्रुवन्‌,उस समय देवता, सिद्ध और महर्षिगण उन दोनोंकी प्रशंसा करते हुए कहने लगे --“महाबाहु द्रोणकुमार! तुम्हें साधुवाद! भीमसेन! तुम्हारे लिये भी साधुवाद”

Sañjaya nói: “Bấy giờ chư thiên, các Siddha và những bậc đại hiền triết tối thượng đều tán dương họ, reo lên: ‘Lành thay, hỡi người con của Droṇa, bậc dũng sĩ cánh tay hùng mạnh! Lành thay, hỡi Bhīma!’—công khai xác nhận dũng lực và tài nghệ đã phô bày giữa chiến cuộc.”

Verse 36

तौ शूरौ समरे राजन्‌ परस्परकृतागसौ । परस्परमुदीक्षेतां क्रोधादुद्वृत्य चक्षुषी,राजन! परस्पर अपराध करनेवाले वे दोनों शूरवीर समरांगणमें क्रोधसे आँखें फाड़- फाड़कर एक-दूसरेकी ओर देख रहे थे

Sañjaya thưa: Tâu Đại vương, hai dũng sĩ ấy—mỗi người đều từng gây lỗi với người kia—đứng giữa chiến địa, trừng mắt nhìn nhau. Trong cơn phẫn nộ, họ căng mắt mở to, ghim chặt ánh nhìn vào đối thủ, khi thù hận chín muồi thành cuộc giao tranh công khai.

Verse 37

क्रोधरक्तेक्षणौ तौ तु क्रोधात्‌ प्रस्फुरिताधरौ । क्रोधात्‌ संदष्टदशनौ तथैव दशनच्छदौ,क्रोधसे उन दोनोंकी आँखें लाल हो गयी थीं। क्रोधसे उनके ओठ फड़क रहे थे और क्रोधसे ही वे ओठ चबाते एवं दाँत पीसते थे

Sañjaya thưa: Cả hai, mắt đỏ ngầu vì giận dữ, môi giật giật bởi cơn thịnh nộ; trong chính cơn cuồng nộ ấy, họ nghiến chặt răng, nghiến ken két, đến nỗi cắn cả môi mình—dấu hiệu lộ rõ rằng giận dữ đã lấn át sự tự chế giữa sức ép chiến trường.

Verse 38

अन्योन्यं छादयन्तौ सम शरवृष्ट्या महारथौ । शराम्बुधारौ समरे शस्त्रविद्युत्प्रकाशिनौ,वे दोनों महारथी धनुषरूपी विद्युतसे प्रकाशित होनेवाले मेघके समान हो बाणरूपी जल धारण करते थे और समरांगणमें बाण-वर्षा करके एक-दूसरेको ढके देते थे

Sañjaya thưa: Hai đại xa chiến sĩ, trút những loạt tên ngang sức, phủ kín lẫn nhau. Giữa trận địa, họ tựa như mây mang mưa—chứa những dòng thác tên—rực sáng bởi tia chớp của binh khí, khi mỗi người đều muốn vượt trội đối phương về võ nghệ.

Verse 39

तावन्योन्यं ध्वजं विद्ध्वा सारथिं च महारणे | अन्योन्यस्य हयान्‌ विद्ध्वा बिभिदाते परस्परम्‌,वे उस महासमरमें परस्परके ध्वज, सारथि और घोड़ोंको बींधकर एक-दूसरेको क्षत- विक्षत कर रहे थे

Sañjaya thưa: Trong trận chiến lớn ấy, họ đâm thủng cờ hiệu của nhau, bắn trúng cả người đánh xe và những con ngựa của đối phương, khiến nhau thương tích không ngừng. Mỗi người đều quyết làm tê liệt phương tiện chiến đấu của kẻ kia, không chịu nhường dù chỉ một bước.

Verse 40

ततः क्रुद्धो महाराज बाणौ गृह महाहवे । उभौ चितक्षिपतुस्तूर्णमन्योन्यस्य वधैषिणौ,महाराज! तदनन्तर उस महासमरमें कुपित हो उन दोनोंने एक-दूसरेके वधकी इच्छासे तुरंत दो बाण लेकर चलाये

Sañjaya thưa: Tâu Đại vương, rồi trong trận chiến dữ dội ấy, cả hai bừng bừng phẫn nộ, liền giương tên bắn thẳng vào nhau, mỗi người đều nuôi ý định đoạt mạng đối phương.

Verse 41

तौ सायकौ महाराज द्योतमानौ चमूमुखे । आजलश्नतुः समासाद्य वज़वेगौ दुरासदौ,राजेन्द्र! वे दोनों बाण सेनाके मुहानेपर चमक उठे। उन दोनोंका वेग वज़्के समान था। उन दुर्जय बाणोंने दोनोंके पास पहुँचकर उन्हें घायल कर दिया

Sañjaya thưa: Tâu Đại vương, hai mũi tên ấy bừng sáng ngay nơi tuyến đầu của đạo quân. Nhanh như lôi đình, khó bề chống đỡ, chúng lao tới đích và đánh trúng, làm đối phương bị thương giữa cảnh giao tranh chật chội.

Verse 42

तौ परस्परवेगाच्च शराभ्यां च भूशाहतौ | निपेततुर्महावीर्य रथोपस्थे तयोस्तदा,परस्परके वेगसे छूटे हुए उन बाणोंद्वारा अत्यन्त घायल हो वे महापराक्रमी वीर अपने- अपने रथकी बैठकमें तत्काल गिर पड़े

Sañjaya thưa: Bị những mũi tên phóng ra với sức mạnh đối chọi lẫn nhau đánh trúng và làm trọng thương, hai dũng sĩ đại lực ấy lập tức gục xuống ngay trên chỗ ngồi của chiến xa mỗi người.

Verse 43

ततस्तु सारथिर्ञात्वा द्रोणपुत्रमचेतनम्‌ । अपोवाह रणाद्‌ू राजन्‌ सर्वसैन्यस्य पश्यत:,राजन! तत्पश्चात्‌ सारथि द्रोणपुत्रको अचेत जानकर सारी सेनाके देखते-देखते उसे रणक्षेत्रसे बाहर हटा ले गया

Sañjaya thưa: Rồi sau đó, tâu Đại vương, người đánh xe biết con trai của Droṇa đã bất tỉnh, liền kéo chàng ra khỏi chiến địa, ngay trước mắt toàn quân.

Verse 44

तथैव पाण्डवं राजन्‌ विह्नलन्तं मुहुर्मुहुः । अपोवाह रथेनाजौ सारथि: शत्रुतापनम्‌,महाराज! इसी प्रकार बारंबार विह्नल होते हुए शत्रुतापन पाण्डुपुत्र भीमसेनको भी रथद्वारा उनका सारथि विशोक युद्धस्थलसे अन्यत्र हटा ले गया

Sañjaya thưa: Cũng vậy, tâu Đại vương, khi Pāṇḍava—Bhīmasena, kẻ thiêu đốt quân thù—nhiều lần choáng váng giữa chiến trường, người đánh xe đã dùng chiến xa đưa chàng rời khỏi cuộc giao tranh sang nơi khác.

Verse 223

तान्यस्त्रैरेव समरे प्रतिजघ्नेडथ पाण्डव: । दोनों ही युद्धस्थलमें एक-दूसरेको रथहीन कर देनेकी इच्छा करने लगे। तदनन्तर महारथी अभ्वत्थामाने बड़े-बड़े अस्त्र प्रकट किये; परन्तु पाण्डुपुत्र भीमसेनने समरांगणमें अपने अस्त्रोंद्वारा ही उन सबको नष्ट कर दिया

Trong trận chiến, Pāṇḍava đã dùng chính vũ khí của mình mà đánh trả, phá tan những vũ khí ấy. Cả hai đều nung nấu ý muốn làm đối phương thành kẻ mất chiến xa. Rồi đại xa thủ Aśvatthāmā phô bày những thần khí lớn lao; nhưng Bhīmasena, con của Pāṇḍu, đã dùng vũ khí của mình mà hủy diệt tất cả ngay giữa chiến trường.

Verse 233

ग्रहयुद्ध यथा घोरं प्रजासंहरणे हाभूत्‌ । महाराज! फिर तो जैसे प्रजाके संहारकालमें ग्रहोंका घोर युद्ध होने लगता है, उसी प्रकार उन दोनोंमें भयंकर अस्त्रयुद्ध छिड़ गया

Sañjaya thưa: Tâu Đại vương, như vào lúc dân chúng bị diệt vong thì giữa các tinh tú dấy lên một cuộc chiến ghê rợn, cũng vậy, giữa hai người ấy lại bùng nổ một trận giao tranh vũ khí phóng ra thật kinh hoàng.

Verse 243

द्योतयन्तो दिश: सर्वास्तव सैन्यं समनन्‍्ततः । भारत! उन दोनोंके छोड़े हुए वे बाण सम्पूर्ण दिशाओंको प्रकाशित करते हुए आपकी सेनाके चारों ओर गिरने लगे

Sañjaya thưa: “Hỡi Bhārata, những mũi tên do hai người ấy phóng ra rực cháy đến nỗi soi sáng mọi phương. Chúng rơi xuống tứ phía, vây quanh quân đội của ngài như một cơn mưa tên.”

Verse 2536

उल्कापातावृतं युद्ध प्रजानां संक्षये नूप । नरेश्वरर उस समय बाणसमूहोंसे व्याप्त हुआ आकाश बड़ा भयंकर प्रतीत होने लगा; ठीक उस तरह जैसे प्रजाके संहारकालमें होनेवाला युद्ध उल्कापातसे व्याप्त होनेके कारण अत्यन्त भयानक दिखायी देता है

Sañjaya thưa: Tâu Đại vương, khi ấy bầu trời dày đặc những loạt tên trông thật ghê rợn—tựa như một trận chiến vào giờ dân chúng bị diệt vong, khi nó bị che phủ bởi mưa sao băng nên càng thêm kinh hoàng.

Verse 2636

सविस्फुलिड्ो दीप्तार्चियों<दहद्‌ वाहिनीद्वयम्‌ । भरतनन्दन! वहाँ बाणोंके परस्पर टकरानेसे चिनगारियों तथा प्रज्वलित लपटोंके साथ आग प्रकट हो गयी, जो दोनों सेनाओंको दग्ध किये देती थी

Sañjaya thưa: Hỡi niềm vui của dòng Bhārata, tại đó, những mũi tên va chạm lẫn nhau đã làm bùng lên lửa—tóe tia lửa và dựng những lưỡi lửa rực sáng—khiến người ta tưởng như nó đang thiêu đốt cả hai đạo quân.

Frequently Asked Questions

The implied tension is between tactical absorption in immediate combat and the obligation to pursue the strategically decisive objective; Kṛṣṇa frames delay itself as ethically relevant when it prolongs broader harm and obstructs mission-level responsibility.

Competence must be governed by discernment: excellence in action is not merely intensity but alignment—choosing the action that best serves the larger purpose under time pressure and moral constraint.

No explicit phalaśruti is presented in the supplied passage; instead, the extended battlefield survey operates as an implicit meta-commentary, guiding the listener toward reflective awareness of impermanence, cost, and the ethical weight of collective decisions.