Verse 2.1
अथ तथा मुद्गलोपनिषदि पुरुषसूक्तस्य वैभवं विस्तरेण प्रतिपादितम् । वासुदेव इन्द्राय भगवज्ज्ञानमुपदिश्य पुनरपि सूक्ष्मश्रवणाय प्रणतायेन्द्राय परमरहस्यभूतं पुरुषसूक्ताभ्यां खण्डद्वयाभ्यामुपादिशत् । द्वौ ख...
Nay, trong Mudgala Upaniṣad, uy nghi và vinh quang của Puruṣa-sūkta được trình bày rộng rãi. Vāsudeva, sau khi truyền dạy cho Indra tri kiến về Thượng Đế, lại vì Indra cúi đầu—mong được nghe điều vi tế—mà trao truyền bí mật tối thượng qua Puruṣa-sūkta gồm hai khanda. Có hai khanda được nói đến. Puruṣa đã giải thoát ấy, từ bỏ đối tượng mà kẻ luân hồi cực khó biết—vượt ngoài tri thức về danh và sắc—liền thọ nhận một thân tướng cát tường với ngàn phần chi thể, chỉ cần thấy đã ban giải thoát, nhằm nhổ tận gốc khổ não của chư thiên và các loài khác bị phiền não bức bách. Với thân tướng ấy, Ngài trùm khắp các thế giới từ cõi đất và vượt lên trên chúng vô lượng do-tuần. Puruṣa, tức Nārāyaṇa, là quá khứ, hiện tại và vị lai; Ngài vượt hơn tất cả về oai đức; vì thế không ai cao hơn. Đại Puruṣa tự phân làm bốn phần: ba phần an trụ nơi cõi trời tối thượng; còn một phần—Aniruddha-Nārāyaṇa—khiến muôn thế giới hiện hữu. Pāda-Nārāyaṇa ấy sinh ra Prakṛti để tạo lập vũ trụ. Dẫu thân đầy đủ viên mãn, Ngài không tự mình thực hiện nghiệp sáng tạo; chính Aniruddha-Nārāyaṇa chỉ dạy về sự sáng tạo cho Ngài: “Này Brahmā, hãy quán các căn của ngươi là những vị tế quan; hãy quán thân thể kiên cố, có nút thắt, cấu thành bởi các ‘vỏ’ (kośa), là vật hiến; hãy quán Ta là Đấng thọ hưởng vật hiến; hãy quán mùa xuân là bơ cúng; hãy quán mùa hạ là củi đốt; hãy quán mùa thu là tinh chất; như vậy, dâng vào lửa, nhờ sự tiếp xúc của các chi phần mà thân trở nên cứng như kim cang.” Rồi, sau khi tạo ra mọi sinh linh theo công năng riêng, các loài thú v.v. sẽ hiện khởi; tiếp đó thế giới gồm loài bất động và động vật sẽ thành. Nhờ đó, phương cách giải thoát do sự hiệp nhất (yoga) giữa ngã cá thể và Đại Ngã cũng được nói—cần liên hệ mà quán sát. Ai biết tế lễ sáng tạo này và phương pháp giải thoát ấy, sẽ đạt trọn thọ mạng.