
कर्णपरर्वणि त्रयोचत्वारिंशदध्यायः (Karṇa-parva Adhyāya 43) — Kṛṣṇa’s Battlefield Assessment and the Reversal Around Bhīma
Upa-parva: Yudhiṣṭhira-Paritrāṇa (Protection of Yudhiṣṭhira) Episode
Saṃjaya reports Kṛṣṇa’s urgent address to Arjuna in the midst of rapidly shifting formations. Kṛṣṇa indicates that Yudhiṣṭhira is being pursued by Duryodhana and powerful Dhārtarāṣṭra archers, describing the concentrated missile threat from Duryodhana, Aśvatthāman (Drauṇi), Kṛpa (Śāradvata), and Karṇa. The narration portrays Yudhiṣṭhira as physically weakened (austere, fasting-lean) and tactically endangered, with his standard reportedly struck down by Karṇa’s arrows, signaling crisis in royal visibility and morale. Karṇa is depicted as dispersing Pāṇḍava-aligned forces, issuing rallying commands to Kaurava troops, and then turning attention toward Arjuna as a principal objective. The chapter then pivots: Saṃjaya announces that Yudhiṣṭhira survives, while Bhīma, supported by Sṛñjayas and Sātyaki, counterattacks with force, causing Kaurava units to recoil. Detailed battlefield imagery follows—fallen banners, scattered umbrellas, rout of elephants and chariots—culminating in Bhīma’s decisive suppression of multiple akṣauhiṇīs and Arjuna’s subsequent engagement against remaining hostile groups (including Saṃśaptakas). The thematic lesson is operational: leadership protection, morale indicators, and coordinated counterpressure can reverse an apparent collapse even under superior missile concentration.
Chapter Arc: Shalya, Karna’s unwilling charioteer, answers Karna’s boasts with a cutting rebuke, turning the chariot-seat into a battlefield of words before the eyes of Dhritarashtra’s narrative world. → Stung, Karna retaliates not with strategy but with scorn: he launches into a long, venomous catalogue of the Madra–Bahlika (Bāhīka) lands and their people—food, drink, customs, speech, and supposed moral decay—seeking to shame Shalya by shaming his homeland. → Karna’s invective peaks in sweeping denunciations of Bāhīka life—drunken revelry, coarse songs, mixed lineages, and ritual impurity—culminating in the claim that such practices make dharma impossible among them and that no noble should dwell there even briefly. → The tirade settles into a grim ‘geography of disgrace’: Karna names regions and towns, lists alleged transgressions, and frames the entire country as a cautionary example, attempting to reassert dominance over Shalya through humiliation rather than persuasion. → The verbal war leaves the alliance poisoned: Shalya’s resentment is sharpened, foreshadowing how a charioteer’s will and words can tilt the fate of the coming duel.
Verse 1
अप-#-राल जा चतुश्नत्वारिशो< ध्याय: कर्णके द्वारा मद्र आदि बाहीक देशवासियोंकी निन्दा शल्य उवाच ननु प्रलापा: कर्णते यान् ब्रवीषि परान् प्रति । ऋते कर्णसहस्त्रेण शक््या जेतुं परे युधि,शल्य बोले--कर्ण! तुम दूसरोंके प्रति जो आक्षेप करते हो, ये तुम्हारे प्रलापमात्र हैं। तुम-जैसे हजारों कर्ण न रहें तो भी युद्धस्थलमें शत्रुओंपर विजय पायी जा सकती है
Śalya nói: “Hỡi Karṇa, những lời buộc tội ngươi ném vào kẻ khác chỉ là lời lảm nhảm. Dẫu không có đến một nghìn người như ngươi, quân thù vẫn có thể bị đánh bại trên chiến địa.”
Verse 2
संजय उवाच तथा ब्रुवन्तं परुषं कर्णो मद्राधिपं तदा । परुषं द्विगुणं भूय: प्रोवाचाप्रियदर्शनम्,संजय कहते हैं--राजन्! ऐसी कठोर बात बोलते हुए मद्रराज शल्यसे कर्णने पुनः दूनी कठोरता लिये अप्रिय वचन कहना आरम्भ किया
Sañjaya thưa: “Tâu Đại vương, khi Śalya—chúa tể xứ Madra—buông lời cay nghiệt như thế, Karṇa, trong khoảnh khắc ấy vẻ mặt cũng trở nên khó ưa, lại đáp trả lần nữa bằng lời lẽ còn gắt gao gấp đôi. Cuộc khẩu chiến ấy cho thấy: khi cơn giận và niềm kiêu hãnh bị tổn thương được nuông chiều, chúng sẽ nhanh chóng leo thang thành sự tàn nhẫn lớn hơn, làm u tối phán đoán ngay trước giờ giao chiến.”
Verse 3
कर्ण उवाच इदं तु ते त्वमेकाग्र: शृणु मद्रजनाधिप । संनिधौ धृतराष्ट्रस्य प्रोच्यमानं मया श्रुतम्,कर्ण बोला--मद्रनरेश! तुम एकाग्रचित्त होकर मेरी ये बातें सुनो। राजा धृतराष्ट्रके समीप कही जाती हुई इन सब बातोंको मैंने सुना था
Karṇa nói: “Nhưng giờ đây, hỡi chúa tể xứ Madra, hãy lắng nghe ta với tâm trí chuyên nhất. Chính ta đã nghe những lời ấy khi chúng được thốt ra trước mặt Dhṛtarāṣṭra.”
Verse 4
देशांश्न विविधांश्षित्रान् पूर्ववृत्तांश्व॒ पार्थिवान् । ब्राह्मणा: कथयन्ति सम धृतराष्ट्रनिवेशने,एक दिन महाराज धूृतराष्ट्रके घरमें बहुत-से ब्राह्मण आ-आकर नाना प्रकारके विचित्र देशों तथा पूर्ववर्ती भूपालोंके वृत्तान्त सुना रहे थे
Karṇa nói: “Trong dinh thất của Dhṛtarāṣṭra, các Bà-la-môn thường ngày qua ngày kể lại những chuyện về bao miền đất kỳ diệu, muôn vẻ; cùng lịch sử và công hạnh của các bậc vương giả thuở trước.”
Verse 5
तत्र वृद्ध: पुरावृत्ता: कथा: कश्रिद् द्विजोत्तम: । वाहीकदेशं मद्रांश्न॒ कुत्सयन् वाक्यमब्रवीत्,वहीं किसी वृद्ध एवं श्रेष्ठ ब्राह्मणने बाहीक और मद्रदेशकी निन्दा करते हुए वहाँकी पूर्वघटित बातें कही थीं--
“Ở đó, một vị Bà-la-môn tuổi cao, đức vọng, đã thuật lại những chuyện từ thuở xa xưa; và trong khi chê trách xứ Vāhīka cùng xứ Madra, ông cất lời như sau—”
Verse 6
बहिष्कृता हिमवता गड़या च बहिष्कृता: । सरस्वत्या यमुनया कुरुक्षेत्रेण चापि ये
Karna nói: “Những kẻ bị dãy Himavat xua đuổi, và những kẻ cũng bị sông Gaḍā ruồng bỏ; những kẻ bị Sarasvatī và Yamunā khước từ, và cả những kẻ bị chính Kurukṣetra loại trừ—(tất thảy) đều là điều đang được nhắc đến.”
Verse 7
पज्चानां सिन्धुषष्ठानां नदीनां येडन्तराश्रिता: । तान् धर्मबाह्यानशुचीन् वाहीकानपि वर्जयेत्
Karna nói: “Những kẻ cư trú trong dải đất nằm giữa năm con sông—tính cả Sindhu là con thứ sáu—bị xem là ngoài khuôn phép dharma và ô uế; vì thế, nên tránh xa cả người Vāhīka.”
Verse 8
'जो प्रदेश हिमालय, गंगा, सरस्वती, यमुना और कुरक्षेत्रकी सीमासे बाहर हैं तथा जो सतलज, व्यास, रावी, चिनाव और झेलम--इन पाँचों एवं छठी सिंधु नदीके बीचमें स्थित हैं, उन्हें बाहीक कहते हैं। वे धर्मबाह्म और अपवित्र हैं। उन्हें त्याग देना चाहिये ।। गोवर्धनो नाम वट: सुभद्रंं नाम चत्वरम् । एतद् राजकुलद्वारमाकुमारात् स्मराम्यहम्,“गोवर्धन नामक वटवृक्ष और सुभद्र नामक चबूतरा--ये दोनों वहाँके राजभवनके द्वारपर स्थित हैं, जिन्हें मैं बचपनसे ही भूल नहीं पाता हूँ
Karna nói: “Những miền đất nằm ngoài ranh giới do dãy Himalaya cùng các sông Gaṅgā, Sarasvatī, Yamunā và thánh địa Kurukṣetra định dấu—và những xứ sở nằm giữa năm con sông Śatadru (Sutlej), Vipāśā (Beas), Irāvatī (Ravi), Candrabhāgā (Chenab), Vitastā (Jhelum) cùng con sông thứ sáu Sindhu (Indus)—được gọi là Bāhīka. Lối sống của họ bị xem là ngoài dharma và ô uế; vì thế nên từ bỏ họ. Và ta vẫn nhớ từ thuở ấu thơ cổng vào hoàng cung nơi ấy: cây đa mang tên Govardhana và bệ nền gọi là Subhadrā đứng ngay trước lối vào.”
Verse 9
कार्येणात्यर्थगूढेन वाहीकेपूषितं मया । तत एषां समाचार: संवासाद् विदितो मम,“मैं अत्यन्त गुप्त कार्यवश कुछ दिनोंतक बाहीक देशमें रहा था। इससे वहाँके निवासियोंके सम्पर्कमें आकर मैंने उनके आचार-व्यवहारकी बहुत-सी बातें जान ली थीं
Karna nói: “Vì một sứ mệnh phải giữ kín tuyệt đối, ta đã sống vài ngày trên đất Vāhīka. Bởi vậy, nhờ gần gũi và cư trú giữa họ, những tập tục và lề lối của họ đã trở nên rõ tường đối với ta.”
Verse 10
शाकलं नाम नगरमापगा नाम निम्नगा | जर्तिका नाम वाहीकास्तेषां वृत्तं सुनिन्दितम्,“वहाँ शाकल नामक एक नगर और आपगा नामकी एक नदी है, जहाँ जर्तिक नामवाले बाहीक निवास करते हैं। उनका चरित्र अत्यन्त निन्दित है
Karna nói: “Có một thành gọi là Śākala và một con sông gọi là Āpagā. Ở đó cư ngụ những người Vāhīka được gọi là Jartikā; hạnh kiểm của họ bị xem là hết sức đáng chê trách.”
Verse 11
धाना गौड्यासवं पीत्वा गोमांसं लशुनैः सह । अपूपमांसवाट्यानामाशिन: शीलवर्जिता:,*वे भुने हुए जौ और लहसुनके साथ गोमांस खाते और गुड़से बनी हुई मदिरा पीकर मतवाले बने रहते हैं। पुआ, मांस और वाटी खानेवाले बाहीकदेशके लोग शील और आचारसे शून्य हैं
Karna nói: “Chúng uống rượu nấu từ mật đường, ăn hạt rang, rồi ăn thịt bò cùng tỏi. Những kẻ sống bằng bánh, thịt và những viên thức ăn thì trống rỗng cả nết hạnh lẫn phong tục đúng đắn.”
Verse 12
गायन्त्यथ च नृत्यन्ति स्त्रियो मत्ता विवासस: । नगरागारवप्रेषु बहिर्माल्यानुलेपना:,“वहाँकी स्त्रियाँ बाहर दिखायी देनेवाली माला और अंगराग धारण करके मतवाली तथा नंगी होकर नगर एवं घरोंकी चहारदिवारियोंके पास गाती और नाचती हैं
Karna nói: “Ở đó, đàn bà—say sưa và trần truồng—hát và nhảy gần lũy thành và vách nhà, phô mình ra ngoài, đeo vòng hoa và xức hương thơm.”
Verse 13
मत्तावगीतैरविविधै: खरोष्टनिनदोपमै: । अनावृता मैथुने ता: कामचाराश्न सर्वश:,“वे गदहोंके रेंकने और ऊँटोंके बलबलानेकी-सी आवाजसे मतवालेपनमें ही भाँति- भाँतिके गीत गाती हैं और मैथुनकालमें भी परदेके भीतर नहीं रहती हैं। वे सब-की-सब सर्वथा स्वेच्छाचारिणी होती हैं
Karna nói: “Trong cơn say, chúng hát đủ thứ, tiếng chẳng khác gì lừa hí và lạc đà rống. Ngay cả lúc giao hoan chúng cũng không che đậy, và mọi bề đều hành động theo ý mình.”
Verse 14
आहुरन्योन्यसूक्तानि प्रब्रुवाणा मदोत्कटा: । हे हते हे हतेत्येवं स्वामिभर्तृहतेति च
Karna nói: “Say cuồng vì khí chiến, chúng ném lời nhục mạ qua lại. Hết lần này đến lần khác chúng gào: ‘Hắn đã bị giết! Hắn đã bị giết!’ và còn: ‘Chúa của ngươi—chủ của ngươi—đã bị giết!’ Thế là chúng tìm cách bẻ gãy ý chí nhau bằng cách rêu rao sự ngã xuống của các thủ lĩnh.”
Verse 15
तासां किलावलिप्तानां निवसन् कुरुजाड़ले
Karna nói: “Quả vậy, cư ngụ trong Kuru Jāṅgala, giữa những kẻ ngập chìm trong kiêu mạn và tự phụ…”
Verse 16
कश्चिद् वाहीकदुष्टानां नातिहृष्टमना जगौ । उन्हीं बाहीकदेशी मदमत्त एवं दुष्ट स्त्रियोंका कोई सम्बन्धी वहाँसे आकर कुरुजांगल प्रदेशमें निवास करता था। वह अत्यन्त खिन्नचित्त होकर इस प्रकार गुनगुनाया करता था -- १५३ || सा नूनं बृहती गौरी सूक्ष्मकम्बलवासिनी
Karna nói: “Có một người có liên hệ với bọn người đồi bại ở xứ Vāhīka, lòng chẳng hề vui, đã thốt ra (những lời này) bằng giọng thấp, lẩm bẩm.” Câu mở đầu đặt nền cho một lời phê phán đạo lý: tiếng than sinh từ ghê tởm và sầu muộn trước thói hư tật xấu, chuẩn bị người nghe cho một sự lên án nghiêm khắc đối với phong tục suy đồi của một vùng đất.
Verse 17
शतद्रुकामहं तीर्त्वा तां च रम्यामिरावतीम्
Karna nói: “Vượt qua sông Śatadrū, ta cũng đã vượt qua dòng Irāvatī xinh đẹp ấy.” Khi nhắc lại những cuộc vượt sông, Karna gợi lên bước tiến nhọc nhằn của chiến binh qua những thủy đạo vừa linh thiêng vừa trọng yếu—hình ảnh của ý chí bền bỉ và sự tiến quân không ngừng giữa sức nặng đạo lý của chiến tranh.
Verse 18
मन:शिलोज्ज्वलापाड्ग्यो गौर्यस्त्रिककुदाउ्जना:,“जिनके नेत्रोंके प्रान्नभाग मैनसिलके आलेपसे उज्ज्वल हैं, दोनों नेत्र और ललाट अंजनसे सुशोभित हैं तथा जिनके सारे अंग कम्बल और मृगचर्मसे आवृत हैं, वे गोरे रंगवाली प्रियदर्शना (परम सुन्दरी) रमणियाँ मृदंग, ढोल, शंख और मर्दल आदि वाद्योंकी ध्वनिके साथ-साथ कब नृत्य करती दिखायी देंगी
Karna nói: “Bao giờ ta lại được thấy những người nữ da trắng, xinh đẹp đáng yêu—đôi mắt rực sáng bởi lớp thuốc đỏ manaḥśilā, mắt và trán điểm trang bằng kohl—đang múa theo âm vang của trống, trống lớn, tù và ốc và mṛdaṅga? Tay chân họ quấn chăn và khoác da nai, vậy mà vẻ đẹp và duyên sắc vẫn không thể lẫn đi.”
Verse 19
कम्बलाजिनसंवीता: कूर्दन्त्य: प्रियदर्शना: । मृदज्रानकशड्खानां मर्दलानां च नि:स्वनै:,“जिनके नेत्रोंके प्रान्नभाग मैनसिलके आलेपसे उज्ज्वल हैं, दोनों नेत्र और ललाट अंजनसे सुशोभित हैं तथा जिनके सारे अंग कम्बल और मृगचर्मसे आवृत हैं, वे गोरे रंगवाली प्रियदर्शना (परम सुन्दरी) रमणियाँ मृदंग, ढोल, शंख और मर्दल आदि वाद्योंकी ध्वनिके साथ-साथ कब नृत्य करती दिखायी देंगी
Karna nói: “Bao giờ ta lại được thấy những người nữ da trắng, đáng yêu—quấn chăn và khoác da nai, đang múa—khi âm vang của trống mṛdaṅga, trống ānaka, tù và ốc và trống mardala dậy lên khắp bốn bề?” Giữa cảnh chiến tranh, lời ông cho thấy tâm trí bị kéo về ký ức hội hè và niềm vui gia thất, làm nổi bật sự căng thẳng đạo lý giữa bổn phận chiến binh và khát vọng người thường đối với hòa bình và cái đẹp.
Verse 20
खरोष्टाश्वतरैश्वैव मत्ता यास्यामहे सुखम् । शमीपीलुकरीराणां वनेषु सुखवर्त्मसु,“कब हमलोग मदोन्मत्त हो गदहे, ऊँट और खच्चरोंकी सवारीद्वारा सुखद मार्गोंवाले शमी, पीलु और करीलोंके जंगलोंमें सुखसे यात्रा करेंगे
Karna nói: “Bao giờ chúng ta, say men vui vô tư, sẽ thong dong lên đường—cưỡi lừa, lạc đà và la—băng qua những khu rừng śamī, pīlu và karīra, theo những lối đi êm thuận?” Trong khung cảnh chiến tranh u ám, câu này mang một nỗi khao khát chua chát, như lời mỉa mai: ước được sống đời giản dị, chẳng cần hào hùng, xa khỏi đòi hỏi bạo lực và tranh chấp của bổn phận kṣatriya.
Verse 21
अपूपान् सक्तुपिण्डांश्व प्राश्नन्तो मथितान्वितान् | पथि सुप्रबला भूत्वा कदा सम्पततो5ध्वगान्
Karna nói: “Cứ ăn bánh apūpa và những viên bột sattu (ngũ cốc rang), lại mang theo sữa chua đã khuấy—đám lữ khách trên đường kia bao giờ mới thật sự trở nên cường tráng mà lao vút lên phía trước?”
Verse 22
एवंशीलेषु व्रात्येषु वाहीकेषु दुरात्मसु
Giữa những người Vāhīka—kẻ có nếp sống như thế, bị xem là ô uế, đứng ngoài khuôn phép Veda, và mang tâm địa ác—
Verse 23
ईदृशा ब्राह्मणेनोक्ता वाहीका मोघचारिण:
Karna nói: “Vāhīka là như thế, đúng như vị bà-la-môn kia đã nói—những kẻ hành xử vô ích và lạc lối.”
Verse 24
इत्युक्त्वा ब्राह्मण: साधुरुत्तरं पुनरुक्तवान्
Nói xong như vậy, vị bà-la-môn hiền đức lại đáp thêm một lần nữa—tiếp tục lời khuyên bằng giọng điềm đạm, chính trực.
Verse 25
तत्र सम राक्षसी गाति सदा कृष्णचतुर्दशीम्
Ở đó, mụ rākṣasī ấy thường xuyên giữ ngày Kṛṣṇa-caturdaśī—ngày mười bốn của nửa tháng tối.
Verse 26
कदा वाहेयिका गाथा: पुनर्गास्यामि शाकले,पलाण्डुगंडूषयुतान् खादन्ती चैडकान् बहून् । “मैं वस्त्राभूषणोंसे विभूषित हो गोमांस खाकर और गुड़की बनी हुई मदिरा पीकर तृप्त हो अंजलि भर प्याजके साथ बहुत-सी भेड़ोंको खाती हुई गोरे रंगकी लंबी युवती स्त्रियोंके साथ मिलकर इस शाकल नगरमें पुन: कब इस तरहकी बाहीकसम्बन्धी गाथाओंका गान करूँगी
Karna nói: “Bao giờ ta lại được ở Śākala mà cất lên lần nữa những khúc ca của xứ Vāheya (Bāhīka)—vừa ăn thật nhiều thịt cừu đực, vừa nhai từng miếng hành đầy miệng?”
Verse 27
गव्यस्य तृप्ता मांसस्य पीत्वा गौडं सुरासवम् | गौरीभि: सह नसिभिर्बृहतीभि: स्वलंकृता:
Karna nói: “Chúng no nê thịt bò và đủ thứ thịt, lại uống thứ rượu ngọt làm từ đường mật; trang sức lộng lẫy, đi cùng những phụ nữ da trắng, chúng mang những thanh đại kiếm mà nghênh ngang qua lại.”
Verse 28
वाराहं कौक्कुटं मांसं गव्यं गार्दभमौष्टिकम्
Karna nói: “Có thịt heo rừng, thịt gà, lại cả thịt bò; rồi cả thịt lừa và thịt lạc đà nữa.”
Verse 29
इति गायन्ति ये मत्ता: सीधुना शाकलाश्च ये
Karna nói: “Kẻ say rượu thì hát như thế—những kẻ bị sīdhu (rượu lên men) làm cho mê loạn, và những kẻ chỉ là ‘shākala’, nói năng vụn vặt, rời rạc.”
Verse 30
इति शल्य विजानीहि हन्त भूयो ब्रवीमि ते
“Vậy hãy hiểu cho rõ, Śalya. Nào—ta sẽ lại nói với ngươi lần nữa.”
Verse 31
पज्च नद्यो वहन्त्येता यत्र पीलुवनान्युत
Karna nói: “Ở nơi ấy có năm con sông đang chảy, và nơi ấy cũng có những lùm cây pīlu.”
Verse 32
शतद्रुश्ष विपाशा च तृतीयैरावती तथा । चन्द्रभागा वितस्ता च सिन्धुषष्ठा बहिगिरि:
Karna tiếp tục liệt kê những đại hà ở miền tây-bắc: “Śatadru, Vipāśā, và thứ ba là Irāvatī; lại có Candrabhāgā và Vitastā; và thứ sáu là Sindhu—cùng với Bahirgiri.”
Verse 33
आरट्टा नाम ते देशा नष्टधर्मा न तान् व्रजेत् । “जहाँ शतद्रु (सतलज), विपाशा (व्यास), तीसरी इरावती (रावी), चन्द्रभागा (चिनाव) और वितस्ता (झेलम)--ये पाँच नदियाँ छठी सिंधु नदीके साथ बहती हैं, जहाँ पीलु नामक वृक्षोंक कई जंगल हैं, वे हिमालयकी सीमासे बाहरके प्रदेश “आरट्ट” नामसे विख्यात हैं। वहाँका धर्म-कर्म नष्ट हो गया है। उन देशोंमें कभी न जाय ।। व्रात्यानां दासमीयानां वाहीकानामयज्वनाम्,“जिनके धर्म-कर्म नष्ट हो गये हैं, वे संस्कारहीन, जारज बाहीक यज्ञ-कर्मसे रहित होते हैं। उनके दिये हुए द्रव्यको देवता, पितर और ब्राह्मण भी नहीं ग्रहण करते हैं, यह बात सुननेमें आयी है”
Karna nói: “Những xứ ấy gọi là Ārāṭṭa; dharma ở đó đã suy đồi—chớ nên đặt chân đến. Người Vāhīka ở đó được truyền rằng là vrātya (ngoài kỷ luật Veda), có nếp sống hèn kém, không làm tế lễ; và nghe nói rằng ngay cả chư thần, tổ tiên và các Bà-la-môn cũng không nhận vật bố thí do họ dâng.”
Verse 34
न देवा: प्रतिगृह्नन्ति पितरो ब्राह्मणास्तथा | तेषां प्रणष्टरर्माणां वाहीकानामिति श्रुति:,“जिनके धर्म-कर्म नष्ट हो गये हैं, वे संस्कारहीन, जारज बाहीक यज्ञ-कर्मसे रहित होते हैं। उनके दिये हुए द्रव्यको देवता, पितर और ब्राह्मण भी नहीं ग्रहण करते हैं, यह बात सुननेमें आयी है”
Karna nói: “Theo thánh truyền, người ta nghe rằng ngay cả chư thần, tổ tiên và các Bà-la-môn cũng không nhận lễ vật từ những Vāhīka mà các nghi lễ và bổn phận chính đáng đã tiêu vong.”
Verse 35
ब्राह्मणेन तथा प्रोक्त विदुषा साधुसंसदि । काष्ठकुण्डेषु वाहीका मृन्मयेषु च भुज्जते,तद्विकारांश्व वाहीका: खादन्ति च पिबन्ति च | किसी दिद्वान् ब्राह्मणने साधु पुरुषोंकी सभामें यह भी कहा था कि “बाहीक देशके लोग काठके कुण्डों तथा मिट्टीके बर्तनोंमें जहाँ सत्तू और मदिरा लिपटे होते हैं और जिन्हें कुत्ते चाटते रहते हैं, घृणाशून्य होकर भोजन करते हैं। बाहीक देशके निवासी भेड़, ऊँटनी और गदहीके दूध पीते और उसी दूधके बने हुए दही-घी आदि भी खाते हैं
Karna nói: “Một vị Bà-la-môn uyên bác đã tuyên bố như vậy giữa hội chúng hiền đức: người Vāhīka ăn từ máng gỗ và đồ gốm đất; và người Vāhīka còn ăn uống những thứ cặn bẩn cùng các thứ phát sinh từ đó.”
Verse 36
सक्तुमद्यावलिप्तेषु श्वावलीढेषु निर्घणा: । आविकं चौष्टिकं चैव क्षीरं गार्दभमेव च
Karna nói: “Chúng hoàn toàn vô tâm—ăn bột trộn rượu, ăn đồ ăn bị chó liếm, lại còn uống sữa lấy từ cừu cái, lạc đà cái và lừa cái.”
Verse 37
पुत्रसंकरिणो जाल्मा: सर्वन्नक्षीरभोजना:
Karna nói: “Lũ khốn kiếp! Các ngươi là kẻ làm bại hoại dòng giống—những kẻ ăn bất cứ thứ gì, sống nhờ sữa và các sản phẩm từ sữa.”
Verse 38
आरट्टा नाम वाहीका वर्जनीया विपक्चिता । “वे जारज पुत्र उत्पन्न करनेवाले नीच आरट्ट नामक बाहीक सबका अन्न खाते और सभी पशुओंके दूध पीते हैं। अतः विद्वान् पुरुषको उन्हें दूरसे ही त्याग देना चाहिये” ।। ३७३ || हन्त शल्य विजानीहि हन्त भूयो ब्रवीमि ते
Karna nói: “Trong bọn Vāhīka có một hạng người gọi là Āraṭṭa; bậc trí giả nên tránh xa họ. Nào, Śalya—hãy hiểu điều này; và nào, ta sẽ còn nói với ngươi thêm nữa.”
Verse 39
यदन्यो<प्युक्तवान् महां ब्राह्मण: कुरुसंसदि । शल्य! इस बातको याद कर लो। अभी तुमसे और भी बातें बताऊँगा, जिन्हें किसी दूसरे ब्राह्मणने कौरवसभामें स्वयं मुझसे कहा था-- || ३८ $ ।। युगन्धरे पयः पीत्वा प्रोष्य चाप्यच्युतस्थले
Karna nói: “Śalya, hãy ghi nhớ điều này. Ta sẽ kể cho ngươi thêm nữa—những điều một vị Bà-la-môn lỗi lạc từng đích thân nói với ta trong hội trường của nhà Kuru. Sau khi uống sữa trên núi Yugandhara và cũng từng lưu lại nơi của Acyuta…”
Verse 40
पज्च नद्यो वहन्त्येता यत्र नि:सृत्य पर्वतात्
Karna nói: “Ở đây có năm con sông chảy ra, tuôn từ ngọn núi.”
Verse 41
बहिश्न नाम हीकश्न विपाशायां पिशाचकौ,विपाशा (व्यास) नदीमें दो पिशाच रहते हैं। एकका नाम है बहि और दूसरेका नाम है हीक। इन्हीं दोनोंकी संतानें बाहीक कहलाती हैं। ब्रह्माजीने इनकी सृष्टि नहीं की है। वे नीच योनिमें उत्पन्न हुए मनुष्य नाना प्रकारके धर्मोंको कैसे जानेंगे?
Karna nói: “Bên sông Vipāśā có hai loài piśāca cư ngụ, một tên là Bahi, một tên là Hīka. Con cháu của chúng được gọi là Bāhīka. Phạm Thiên không tạo ra họ; sinh từ một thai tạng hèn kém, hạng người ấy làm sao hiểu nổi muôn dạng dharma?”
Verse 42
तयोरपत्यं वाहीका नैषा सृष्टि: प्रजापते: । ते कथं विविधान् धर्मान् ज्ञास्यन्ते हीनयोनय:,विपाशा (व्यास) नदीमें दो पिशाच रहते हैं। एकका नाम है बहि और दूसरेका नाम है हीक। इन्हीं दोनोंकी संतानें बाहीक कहलाती हैं। ब्रह्माजीने इनकी सृष्टि नहीं की है। वे नीच योनिमें उत्पन्न हुए मनुष्य नाना प्रकारके धर्मोंको कैसे जानेंगे?
Karna nói: “Vāhīka là hậu duệ của hai kẻ ấy; đây không phải là tạo tác của Prajāpati. Người sinh từ thai tạng hèn kém làm sao có thể hiểu được muôn dạng dharma?”
Verse 43
इस प्रकार श्रीमहाभारत कर्णपर्वमें कर्ण और शल्यका संवादविषयक तैंतालीयवाँ अध्याय पूरा हुआ,कारस्करान्माहिषकान् कुरण्डान् केरलांस्तथा । कर्कोटकान् वीरकांभश्व दुर्धर्माश्न॒ विवर्जयेत् कारस्कर, माहिषक, कुरंड, केरल, कर्कोटक और वीरक--इन देशोंके धर्म (आचार- व्यवहार) दूषित हैं; अतः इनका त्याग कर देना चाहिये
Như vậy, trong Mahābhārata, phần Karṇa-parva, chương thứ bốn mươi ba về cuộc đối thoại giữa Karna và Śalya đã kết thúc. “Hãy tránh xa Kāraṣkara, Māhiṣaka, Kuraṇḍa, Kerala, Karkoṭaka và Vīraka; bởi dharma (phong tục, nếp sống) của các xứ ấy đã hoại bại.”
Verse 44
इति तीर्थानुसरतरं राक्षसी काचिदब्रवीत् । एकरात्रशयी गेहे महोलूखलमेखला,विशाल ओखलियोंकी मेखला (करधनी) धारण करनेवाली किसी राक्षसीने किसी तीर्थयात्रीके घरमें एक रात रहकर उससे इस प्रकार कहा था-- इति श्रीमहाभारते कर्णपर्वणि कर्णशल्यसंवादे चतुश्नत्वारिंशो5ध्याय:
Rồi, trong mạch kể về cuộc du hành các thánh địa, có một nữ rākṣasī cất lời: “Một nữ rākṣasī, thắt ngang lưng bằng chiếc đai làm từ những cối giã lớn, đã trú lại một đêm trong nhà của một người hành hương và nói như vầy.” Ấy là chương bốn mươi ba của Karṇa-parva, cuộc đối thoại Karna–Śalya trong Mahābhārata.
Verse 45
आरट्टा नाम ते देशा वाहीकं॑ नाम तज्जलम् | ब्राह्मणापसदा यत्र तुल्यकाला: प्रजापते:,जहाँ ब्रह्माजीके समकालीन (अत्यन्त प्राचीन) वेदविरुद्ध आचरणवाले नीच ब्राह्मण निवास करते हैं, वे आरट्ट नामक देश हैं और वहाँके जलका नाम बाहीक है
Karna nói: “Những xứ ấy gọi là Āraṭṭa, và dòng nước nơi đó được gọi là Vāhīka. Ở vùng ấy cư ngụ những Bà-la-môn suy đọa—kẻ hành xử trái với Veda—được truyền rằng cổ xưa ngang với thời đại của Prajāpati.”
Verse 46
वेदा न तेषां वेद्यक्ष॒ यज्ञा यजनमेव च । व्रात्यानां दासमीयानामन्नं देवा न भुज्जते,उन अधम ब्राह्मणोंको न तो वेदोंका ज्ञान है, न वहाँ यज्ञकी वेदियाँ हैं और न उनके यहाँ यज्ञ-याग ही होते हैं। वे संस्कारहीन एवं दासोंसे समागम करनेवाली कुलटा स्त्रियोंकी संतानें हैं; अत: देवता उनका अन्न नहीं ग्रहण करते हैं
Karna nói: “Trong bọn họ không có tri thức về Veda, không có bàn tế xứng đáng cho nghi lễ Veda, và cũng không có sự cử hành tế tự chân chính. Vì sinh ra từ những kẻ chưa thọ lễ khai tâm và từ những người đàn bà giao du với nô lệ, nên thức ăn của họ không được chư thần thọ nhận.”
Verse 47
प्रस्थला मद्रगान्धारा आरट्टा नामत: खशा: । वसातिसिन्धुसौवीरा इति प्रायोडतिकुत्सिता:,प्रस्थल, मद्र, गान्धार, आरट्ट, खस, वसाति, सिंधु तथा सौवीर--ये देश प्रायः अत्यन्त निन्दित हैं
Karna nói: “Prasthala, Madra, Gandhāra, Āraṭṭa, và những kẻ mang danh Khaśa; lại thêm Vāsāti, Sindhu và Sauvīra—các xứ ấy, phần nhiều, vẫn bị truyền tụng là hết sức đáng khinh.”
Verse 146
आक्रोशन्त्य: प्रनृत्यन्ति व्रात्या पर्वस्वसंयता: । “मदसे उन्मत्त होकर परस्पर सरस विनोदयुक्त बातें करती हुई वे एक-दूसरीको 'ओ घायल की हुई! ओ किसीकी मारी हुई! हे पतिमर्दिते!” इत्यादि कहकर पुकारती और नृत्य करती हैं। पर्वों और त्योहारोंक अवसरपर तो उन संस्कारहीन रमणियोंके संयमका बाँध और भी टूट जाता है
Karna nói: “Những người đàn bà ấy, buông thả và thô tục, cứ la hét rồi nhảy múa. Đến kỳ lễ hội, sự tự chế của họ lại càng tan vỡ; trong cơn say cuồng, họ gọi nhau bằng những lời lỗ mãng, giễu cợt: ‘Đồ bị thương! Đồ bị giết! Đồ bị chồng đánh!’—rồi trao đổi những câu đùa tục tằn.”
Verse 166
मामनुस्मरती शेते वाहीकं कुरुजाडूले । “निश्चय ही वह लंबी, गोरी और महीन कम्बलकी साड़ी पहननेवाली मेरी प्रेयसी कुरुजांगल प्रदेशमें निवास करनेवाले मुझ बाहीकको निरन्तर याद करती हुई सोती होगी
Karna nói: “Người yêu của ta, trắng trẻo và mảnh mai, khoác tấm choàng len mịn—hẳn nàng đang nằm xuống ngủ, không ngừng tưởng nhớ đến ta, kẻ Vāhīka cư ngụ nơi miền Kuru-Jāṅgala.”
Verse 176
गत्वा स्वदेशं द्रक्ष्यामि स्थूलशड्खा: शुभा: स्त्रिय: । “मैं कब सतलज और उस रमणीय रावी नदीको पार करके अपने देशमें पहुँचकर शंखकी बनी हुई मोटी-मोटी चूड़ियोंको धारण करनेवाली वहाँकी सुन्दरी स्त्रियोंको देखूँगा
Karna nói: “Bao giờ, vượt qua sông Sutlej và con sông Ravi êm đẹp, ta sẽ trở về xứ mình để được thấy những người phụ nữ cát tường nơi ấy, tay đeo những chiếc vòng dày bằng vỏ ốc tù và?”
Verse 216
चेलापहारं कुर्वाणास्ताडयिष्याम भूयस: । 'मार्गमें तक्रके साथ पूए और सत्तूके पिण्ड खाकर अत्यन्त प्रबल हो कब चलते हुए बहुत-से राहगीरोंको उनके कपड़े छीनकर हम अच्छी तरह पीटेंगे”
Karna nói: “Hết lần này đến lần khác, ngay khi đang lột lấy y phục của khách bộ hành, ta sẽ đánh họ một trận nên thân.”
Verse 226
कश्चेतयानो निवसेन्मुहूर्तमपि मानव: । संस्कारशून्य दुरात्मा बाहीक ऐसे ही स्वभावके होते हैं। उनके पास कौन सचेत मनुष्य दो घड़ी भी निवास करेगा?”
Karna nói: “Người tỉnh táo, biết phân biệt nào lại ở với một Bāhīka—kẻ không có lễ giáo, không có chánh hạnh, tâm địa hiểm ác—dù chỉ trong chốc lát? Ấy là bản tính của họ.”
Verse 233
येषां षड़भागहर्ता त्वमुभयो: शुभपापयो: । ब्राह्मणने निरर्थक आचार-विचारवाले बाहीकोंको ऐसा ही बताया है, जिनके पुण्य और पाप दोनोंका छठा भाग तुम लिया करते हो
Karna nói: “Chính ngươi là kẻ nhận lấy một phần sáu của cả công đức lẫn tội lỗi của họ.”
Verse 243
वाहीकेष्वविनीतेषु प्रोच्यमानं निबोध तत् | शल्य! उस श्रेष्ठ ब्राह्मणने ये सब बातें बताकर उद्ण्ड बाहीकोंके विषयमें पुनः जो कुछ कहा था, वह भी बताता हूँ, सुनो--
Karna nói: “Hãy lắng nghe kỹ điều người ta nói về bọn Vāhīka vô kỷ luật. Hỡi Śalya, sau khi vị brāhmaṇa ưu tú ấy đã kể hết mọi chuyện, những lời ông còn nói thêm về bọn Vāhīka ngang ngược—ta cũng sẽ thuật lại cho ngươi. Hãy nghe.”
Verse 256
नगरे शाकले स्फीते आहत्य निशि दुन्दुभिम् । “उस देशमें एक राक्षसी रहती है, जो सदा कृष्णपक्षकी चतुर्दशी तिथिको समृद्धिशाली शाकल नगरमें रातके समय दुन्दुभि बजाकर इस प्रकार गाती है--
Karna nói: “Trong thành Śākala phồn thịnh, giữa đêm, nàng gióng trống chiến (dundubhi) và hát như vầy.”
Verse 276
पलाण्डुगंडूषयुतान् खादन्ती चैडकान् बहून् । “मैं वस्त्राभूषणोंसे विभूषित हो गोमांस खाकर और गुड़की बनी हुई मदिरा पीकर तृप्त हो अंजलि भर प्याजके साथ बहुत-सी भेड़ोंको खाती हुई गोरे रंगकी लंबी युवती स्त्रियोंके साथ मिलकर इस शाकल नगरमें पुन: कब इस तरहकी बाहीकसम्बन्धी गाथाओंका गान करूँगी
Karna nói bằng giọng châm biếm cay độc, gợi lên những thú vui thô lậu và tập quán ăn uống mà (theo lối tu từ công kích của sử thi) gắn với vùng Bāhlīka/Śākala. Chàng hình dung một cảnh buông thả: khoác y phục, đeo trang sức, ăn thịt bò, uống rượu lên men từ đường thốt nốt (jaggery), bốc từng nắm hành tây, lại ngấu nghiến vô số thịt cừu—giữa đám thiếu nữ trẻ, da trắng, dáng cao—rồi hỏi bao giờ tại thành Śākala này chàng lại được hát những khúc “ca tụng liên quan Bāhlīka” như thế nữa.
Verse 283
ऐडं च ये न खादन्ति तेषां जन्म निरर्थकम् । “जो सूअर, मुर्गा, गाय, गदहा, ऊँट और भेड़के मांस नहीं खाते, उनका जन्म व्यर्थ है!
Karna nói: “Ai không ăn thịt heo, thịt gà, thịt bò, thịt lừa, thịt lạc đà và thịt cừu, thì sinh ra cũng uổng!”
Verse 293
सबालवृद्धा: क्रन्दन्तस्तेषु धर्म: कथं भवेत् । “जो शाकलनिवासी आबालवृद्ध नर-नारी मदिरासे उन्मत्त हो चिल्ला-चिल्लाकर ऐसी गाथाएँ गाया करते हैं, उनमें धर्म कैसे रह सकता है?”
Karna nói: “Ở nơi ấy, đến cả trẻ con và người già cũng gào khóc ầm ĩ, thì làm sao dharma còn có thể tồn tại? Ở chốn mà dân chúng—nam nữ mọi lứa tuổi—phát cuồng vì rượu, vừa la hét vừa hát những khúc ca như thế, còn chỗ nào cho chính đạo?”
Verse 303
यदन्यो<प्युक्तवानस्मान् ब्राह्मण: कुरुसंसदि । शल्य! इस बातको अच्छी तरह समझ लो। हर्षका विषय है कि इसके सम्बन्धमें मैं तुम्हें कुछ और बातें बता रहा हूँ, जिन्हें दूसरे ब्राह्मणने कौरव-सभामें हमलोगोंसे कहा था --
Karna nói: “Hỡi Śalya, hãy hiểu cho rõ điều này. Thật đáng thỏa lòng rằng, nhân chuyện ấy, ta còn có thể kể cho ngươi thêm nữa—những điều một vị Bà-la-môn khác từng nói với chúng ta trong hội trường Kuru. Nay ta nhắc lại lời ấy để bày rõ ý nghĩa trước mặt ngươi.”
Verse 363
तद्विकारांश्व वाहीका: खादन्ति च पिबन्ति च | किसी दिद्वान् ब्राह्मणने साधु पुरुषोंकी सभामें यह भी कहा था कि “बाहीक देशके लोग काठके कुण्डों तथा मिट्टीके बर्तनोंमें जहाँ सत्तू और मदिरा लिपटे होते हैं और जिन्हें कुत्ते चाटते रहते हैं, घृणाशून्य होकर भोजन करते हैं। बाहीक देशके निवासी भेड़, ऊँटनी और गदहीके दूध पीते और उसी दूधके बने हुए दही-घी आदि भी खाते हैं
Karna nói rằng người Vāhīka, không biết hổ thẹn, vẫn ăn uống cả những thứ ô uế, hèn kém như thế. Một vị Bà-la-môn uyên bác từng nói trong hội của những bậc hiền thiện: “Dân Bāhlīka ăn mà không chút ghê tởm, từ những thùng gỗ và đồ gốm đất, nơi bột sattu và rượu bám dính, lại bị chó liếm mãi. Người Bāhlīka uống sữa cừu, sữa lạc đà cái và sữa lừa cái; và họ cũng ăn sữa chua, bơ tinh luyện (ghee) cùng các thứ làm từ chính thứ sữa ấy.”
Verse 393
तद्वद् भूतिलये स्नात्वा कथं स्वर्ग गमिष्यति । “युगन्धर नगरमें दूध पीकर अच्युतस्थल नामक नगरमें एक रात रहकर तथा भूतिलयमें स्नान करके मनुष्य कैसे स्वर्गमें जायगा?”
Karna hoài nghi hỏi: “Chỉ tắm ở Bhūtilaya mà thôi thì làm sao con người có thể lên cõi trời? Lẽ nào sự giải thoát lại bị thu gọn thành một nghi lễ đơn giản, tách rời khỏi công đức chân thật, hạnh kiểm và trách nhiệm đạo đức?”
Verse 403
आरट्टा नाम वाहीका न तेष्वार्योद्व्यहं वसेत् । जहाँ पर्वतसे निकलकर ये पूर्वोक्त पाँचों नदियाँ बहती हैं, वे आरट्ट नामसे प्रसिद्ध बाहीक प्रदेश हैं। उनमें श्रेष्ठ पुरुष दो दिन भी निवास न करे
Karna nói: “Người Vāhīka được gọi là Āraṭṭa. Ở xứ ấy, bậc Ārya—người cao nhã và có kỷ cương—không nên lưu lại dù chỉ hai ngày.” Lời ấy là một sự quở trách về đạo đức và xã hội, lấy chuẩn mực ‘hạnh Ārya’ để xem một vùng đất là không thích hợp cho đời sống tinh luyện và kỷ luật.
The chapter frames a conflict between pursuing high-value tactical targets and the immediate dharmic-political obligation to protect Yudhiṣṭhira, whose safety is tied to legitimacy, continuity of command, and the ethical order of the Pāṇḍava cause.
Effective action under crisis requires clear prioritization: preserving the moral-political center (the king) and reading battlefield signs (standards, rout patterns) as real indicators of systemic stability, not merely spectacle.
No formal phalaśruti appears in this unit; the meta-level significance is implicit, using Saṃjaya’s narration to emphasize how perception, counsel, and rapid re-coordination shape outcomes within the epic’s dharma-and-karma framework.