Adhyaya 127
Anushasana ParvaAdhyaya 12726 Verses

Adhyaya 127

Umā’s Inquiry and the Manifestation of the Third Eye (उमा–प्रश्नः तृतीयनेत्रोत्पत्तिः)

Upa-parva: Umā–Maheśvara Saṃvāda (Dialogic Episode within Anuśāsana Parva)

Bhīṣma states that Nārada, revered as Nārāyaṇa’s intimate associate, recounts a dialogue of Śaṃkara with Umā. Śiva is depicted performing austerities on the sacred Himavat, surrounded by siddhas and cāraṇas, with a vast retinue of bhūtas, yakṣas, gandharvas, and other beings; the setting is richly ornamented with divine flowers, fragrances, music, and celebratory movement. Umā approaches with attendants, carrying a golden vessel of waters gathered from all tīrthas, accompanied by auspicious mountain streams and floral showers. In playful intimacy, she covers Śiva’s eyes; immediately the assembly is plunged into darkness, ritual sounds cease, and fear spreads as if the sun had vanished. To protect beings, Śiva brings forth a radiant third eye from his forehead; its intense blaze scorches the forested mountain like a cosmic fire. Seeing the mountain’s distress, Umā submits with folded hands; Śiva, pleased, restores the landscape to its natural state. Umā then articulates a structured set of questions: why the third eye arose, why the mountain burned and was restored, and why Śiva bears particular faces, matted hair, the blue throat, the pināka bow, and ascetic marks. Śiva invites her to listen to the causal explanations (hetu) behind these forms, setting up the continuation of the doctrinal-etiological discourse.

Chapter Arc: Bhishma recounts a celestial marvel: Kaikeyi’s daughter Sumana, radiant and seated in a vimana, is questioned by the sage-like Shandili—how did she wash away sin and attain Devaloka? → Shandili presses for the precise vrata and daily conduct behind such a destiny. Sumana begins to enumerate not grand rituals but minute, relentless disciplines of pativrata-life—service, restraint, and alignment of her will with her husband’s. → Sumana’s vow crystallizes into a severe inner law: she honors her husband’s return with seat and worship; she rejects any food he disapproves; she will not disturb his sleep even when urgent work arises—placing his ease above her own impulses and convenience. → The chapter resolves by presenting these practices as the ‘var’ (boon/fruit) of pativrata-dharma: purity of conduct, conquest of ego, and the merit that carries one to luminous worlds. The dialogue frames domestic fidelity as a spiritual path with cosmic consequence.

Shlokas

Verse 1

(दाक्षिणात्य अधिक पाठके ४ श्लोक मिलाकर २४ श्लोक हैं) पा गा त्रयोविशर्त्याधिकशततमो< ध्याय: शाण्डिली और सुमनाका संवाद--पतिव्रता स्त्रियोंके कर्तव्यका वर्णन युधिछिर उवाच सत्स्त्रीणां समुदाचारं सर्वधर्मविदां वर । श्रोतुमिच्छाम्यहं त्वत्तस्तन्मे ब्रूहि पितामह

Yudhiṣṭhira thưa rằng: “Ôi Pitāmaha, bậc tối thượng trong những người thấu triệt dharma trọn vẹn! Con mong được nghe từ chính lời Người về phép tắc và hạnh kiểm của những người phụ nữ hiền đức. Xin Người hãy nói cho con biết.”

Verse 2

भीष्म उवाच सर्वज्ञां सर्वतत्त्वज्ञां देवलोके मनस्विनीम्‌ । कैकेयी सुमना नाम शाण्डिलीं पर्यपृच्छत

Bhīṣma đáp: “Này Đại vương, đây là chuyện ở cõi trời. Sumanā, ái nữ của vua Kekaya, đã đến hỏi nữ thần Śāṇḍilī—bậc trí tuệ, thấu triệt mọi chân lý—bằng những lời như sau…”

Verse 3

केन वृत्तेन कल्याणि समाचारेण केन वा | विधूय सर्वपापानि देवलोक॑ त्वमागता,“कल्याणि! तुमने किस बर्ताव अथवा किस सदाचारके प्रभावसे समस्त पापोंका नाश करके देवलोकमें पदार्पण किया है?

Bhīṣma nói: “Hỡi phu nhân cát tường, nhờ lối sống nào, hay nhờ khuôn phép thiện hạnh nào, mà nàng đã rũ sạch mọi tội lỗi và đạt đến cõi chư thiên? Kỷ luật đạo đức nào đã đưa nàng lên trời?”

Verse 4

हुताशनशिखेव त्वं ज्वलमाना स्वतेजसा । सुता ताराधिपस्येव प्रभया दिवमागता

Bhīṣma nói: “Nàng tự bừng cháy bằng hào quang của chính mình như ngọn lửa tế tự; và như ái nữ của Nguyệt thần, nàng đã đến cõi trời, rực sáng với vẻ huy hoàng chói lọi.”

Verse 5

अरजांसि च वस्त्राणि धारयन्ती गतक्लमा । विमानस्था शुभा भासि सहस्रगुणमोजसा

Bhīṣma nói: “Khoác y phục tinh sạch, không chút mệt nhọc, nàng ngự trên cỗ xe trời. Dáng hình nàng cát tường; và nhờ hào quang công đức của chính mình, nàng rực sáng với vẻ huy hoàng gấp ngàn lần.”

Verse 6

न त्वमल्पेन तपसा दानेन नियमेन वा । इमं लोकमनुप्राप्ता त्वं हि तत्त्व वदस्व मे

Bhīṣma nói: “Hẳn không phải nhờ chút khổ hạnh ít ỏi, cũng không chỉ nhờ bố thí hay những sự kiêng giữ bề ngoài, mà nàng đạt đến cảnh giới và cõi này. Vậy hãy nói cho ta chân lý—hãy nói sự thật đúng như nó là.”

Verse 7

'थोड़ी-सी तपस्या थोड़े-से दान या छोटे-मोटे नियमोंका पालन करके तुम इस लोकमें नहीं आयी हो। अत: अपनी साधनाके सम्बन्धमें सच्ची-सच्ची बात बताओ' ।।

Khi Sumanā hỏi nàng bằng lời lẽ ngọt ngào như thế, Śāṇḍilī—mỉm cười duyên dáng—đáp lại Sumanā bằng những lời dịu dàng, chừng mực, chuẩn bị nói thật về pháp tu đã đưa nàng đến cảnh giới hiện tại.

Verse 8

नाहं काषायवसना नापि वल्कलधारिणी । न च मुण्डा च जटिला भूत्वा देवत्वमागता

Bhishma nói: “Ta không đạt đến thần tính nhờ khoác áo cà-sa, cũng không nhờ mặc y phục bằng vỏ cây; ta cũng chẳng đến cảnh giới chư thiên bằng cách cạo đầu hay để tóc bện rối. Không phải do những dấu hiệu khổ hạnh bề ngoài ấy mà ta được đến cõi trời.”

Verse 9

अहितानि च वाक्यानि सर्वाणि परुषाणि च । अप्रमत्ता च भर्तारें कदाचिन्नाहमब्रुवम्‌,“मैंने सदा सावधान रहकर अपने पतिदेवके प्रति मुँहले कभी अहितकर और कठोर वचन नहीं निकाले हैं

Bhishma nói: “Chưa từng—dù chỉ một lần—khi luôn tỉnh thức và tự chế, ta nói với phu quân những lời gây hại hay lời cay nghiệt. Ta giữ gìn lời nói để không làm tổn thương người.”

Verse 10

देवतानां पितृणां च ब्राह्मणानां च पूजने । अप्रमत्ता सदा युक्ता श्वश्रूश्वशुरवर्तिनी,“मैं सदा सास-ससुरकी आज्ञामें रहती और देवता, पितर तथा ब्राह्मणोंकी पूजामें सदा सावधान होकर संलग्न रहती थी

Bhishma nói: “Trong việc thờ phụng chư thiên, tổ tiên và các Bà-la-môn, ta luôn tỉnh thức và chuyên cần phụng sự; và ta sống vâng lời mẹ chồng, cha chồng, một lòng làm theo ý nguyện của họ.”

Verse 11

“किसीकी चुगली नहीं खाती थी। चुगली करना मेरे मनको बिलकुल नहीं भाता था। मैं घरका दरवाजा छोड़कर अन्यत्र नहीं खड़ी होती और देरतक किसीसे बात नहीं करती थी

Bhishma nói: “Ta chưa từng nói xấu sau lưng bất kỳ ai. Thói quen đem chuyện người này kể người kia khiến lòng ta vô cùng chán ghét. Ta không la cà rời khỏi ngưỡng cửa nhà, cũng không chuyện trò lâu với ai.”

Verse 12

असद वा हसितं किंचिदहितं वापि कर्मणा । रहस्यमरहस्यं वा न प्रवर्तामि सर्वथा

Bhishma nói: “Ta chưa từng buông lời đùa cợt dung tục, cũng chưa từng gây hại cho ai bằng hành vi của mình. Dù ở chốn riêng tư hay trước mặt mọi người, ta tuyệt nhiên không dấn vào những việc làm lén lút hay những điều công khai bất chính.”

Verse 13

कार्यार्थ निर्गतं चापि भर्तारें गृहमागतम्‌ । आसनेनोपसंयोज्य पूजयामि समाहिता

Bhishma nói: “Khi phu quân ta ra ngoài vì một việc cần làm rồi trở về nhà, ta liền đứng dậy, kính cẩn mời chàng ngồi vào chỗ ngồi xứng đáng, và với tâm ý chuyên nhất, tỉnh thức, ta tôn kính và phụng sự chàng.”

Verse 14

यदन्नं नाभिजानाति यद्‌ भोज्यं नाभिनन्दति । भक्ष्यं वा यदि वा लेहां तत्सव॑ वर्जयाम्यहम्‌

Bhishma nói: “Món ăn nào chúa tể của ta không xem là đáng nhận, và thức gì chàng không tán thành—dù là thứ phải nhai, phải ăn, hay phải liếm—tất thảy ta cũng từ bỏ.”

Verse 15

कुट॒म्बार्थे समानीतं यर्त्किंचित्‌ कार्यमेव तु । प्रातरुत्थाय तत्सर्व कारयामि करोमि च,'सारे कुट॒म्बके लिये जो कुछ कार्य आ पड़ता, वह सब मैं सबेरे ही उठकर कर-करा लेती थी

Bhishma nói: “Bất cứ việc gì—dù nhỏ nhặt—nảy sinh vì lợi ích của gia thất, ta đều dậy sớm tinh mơ mà lo liệu cho trọn: vừa sai người làm, vừa tự tay làm.”

Verse 16

(अग्निसंरक्षणपरा गृहशुद्धि च कारये । कुमारान्‌ पालये नित्यं कुमारी परिशिक्षये ।।

Bhishma nói: “Ta một lòng gìn giữ ngọn lửa thiêng trong gia thất và giữ nhà cửa thanh tịnh bằng việc quét dọn, tẩy uế thường xuyên. Mỗi ngày ta chăm nom con trẻ và dạy các thiếu nữ về bổn phận, nề nếp của người nữ. Dẫu phải gác bỏ những món ăn mình ưa thích, ta vẫn luôn chuyên chú bảo hộ thai nhi. Ta đã vĩnh viễn từ bỏ việc rủa mắng con trẻ, trút giận lên chúng hay làm chúng đau khổ bằng bất cứ cách nào. Trong nhà ta, thóc lúa không bao giờ bị vãi vương, thức ăn cũng không bị phung phí. Ta chăm đàn bò trong nhà—cho ăn cỏ rơm, cho uống nước—quý giữ sự an toàn của chúng như giữ một viên bảo châu. Và khi thân tâm thanh tịnh, ta bước ra dâng bố thí cho hàng ‘nhị sinh’ (Bà-la-môn). Nếu phu quân ta đi xa vì một việc gì, ta giữ mình nghiêm cẩn, tự chế, và thực hành nhiều nghi lễ cát tường để cầu phúc cho chàng.”

Verse 17

यदि मेरे पति किसी आवश्यक कार्यवश कभी परदेश जाते तो मैं नियमसे रहकर उनके कल्याणके लिये नाना प्रकारके मांगलिक कार्य किया करती थी ।।

Bhishma nói: “Khi phu quân ta rời nhà đi xa, ta chẳng vui thích việc trang sức—không kẻ chì mắt, không điểm dấu gorocanā trên trán, không tắm xoa dầu, không đeo vòng hoa, không xức hương hay làm đẹp theo bất cứ cách nào. Trong lúc chàng vắng mặt, ta giữ mình tiết chế và thực hành các nghi lễ cát tường để cầu an cho chàng.”

Verse 18

नोत्थापयामि भर्तारें सुखसुप्तमहं सदा । आन्तरेष्वपि कार्येषु तेन तुष्यति मे मन:

Bhīṣma nói: “Ta chưa từng đánh thức phu quân khi người đang ngủ yên ấm. Dẫu có việc cần lo liệu trong nhà, ta vẫn nhịn, không quấy rầy; nhờ vậy tâm ta luôn được an nhiên mãn nguyện.”

Verse 19

“जब स्वामी सुखपूर्वक सो जाते उस समय आवश्यक कार्य आ जानेपर भी मैं उन्हें कभी नहीं जगाती थी। इससे मेरे मनको विशेष संतोष प्राप्त होता था ।।

Bhīṣma nói: “Khi phu quân ta ngủ yên ấm, dẫu có việc cần kíp phát sinh, ta cũng chưa từng quấy rầy đánh thức. Sự tự chế ấy đem lại cho ta niềm thỏa mãn sâu kín. Ngay cả vì việc nuôi giữ gia thất, ta cũng không làm người phiền lòng. Ta luôn giữ kín những điều thầm kín của nhà, và khiến nhà cửa, sân vườn lúc nào cũng được quét dọn sạch sẽ, ngăn nắp.”

Verse 20

इमं धर्मपथं नारी पालयन्ती समाहिता । अरुन्धतीव नारीणां स्वर्गलोके महीयते

Bhīṣma nói: “Người nữ nào luôn tỉnh thức, tự chủ, gìn giữ và theo trọn con đường dharma này, sẽ được tôn kính giữa hàng phụ nữ như Arundhatī; và nơi cõi trời, nàng cũng đạt danh vọng đặc biệt.”

Verse 21

भीष्मजी कहते हैं--युधिष्ठिर! सुमनाको इस प्रकार पातितव्रत्य धर्मका उपदेश देकर तपस्विनी महाभागा शाण्डिली देवी तत्काल वहाँ अदृश्य हो गयीं

Bhīṣma nói: “Hỡi Yudhiṣṭhira, sau khi đã dạy Sumanaka như thế về dharma dành cho kẻ đã sa ngã khỏi lời nguyện, nữ thần Śāṇḍilī—vị khổ hạnh, bậc đại phúc—liền biến mất ngay tại chỗ ấy.”

Verse 22

यश्चेदं पाण्डवाख्यानं पठेत्‌ पर्वणि पर्वणि । स देवलोकं सम्प्राप्य नन्दने स सुखी वसेत्‌

Bhīṣma nói: “Hỡi con cháu Pāṇḍu, ai tụng đọc truyện tích về các Pāṇḍava này vào mỗi dịp parvan (ngày lễ/đạo nhật), người ấy sẽ đến cõi chư thiên; và khi đã tới Nandana—khu lâm viên thiên giới của Indra—sẽ an trú trong hạnh phúc.”

Verse 23

भीष्म उवाच एतदाख्याय सा देवी सुमनायै तपस्विनी । पतिधर्म महाभागा जगामादर्शनं तदा

Bhīṣma nói: Sau khi kể lại câu chuyện ấy cho Sumanā, vị nữ thần tu khổ hạnh—bậc cao quý, kiên trụ nơi đạo làm vợ (patidharma)—liền khuất dạng ngay khi ấy.

Verse 113

पैशुन्ये न प्रवर्तामि न ममैतन्मनोगतम्‌ । अद्वारि न च तिष्ठामि चिरं न कथयामि च

Bhīṣma nói: “Ta không sa vào lời gièm pha, và ý nghĩ ấy cũng không khởi trong lòng ta. Ta không đứng nấn ná nơi cửa nhà người khác, và ta cũng không nói dài dòng.”

Verse 122

इस प्रकार श्रीमह्ाभारत अनुशासनपर्वके अन्तर्गत दानधर्मपर्वमें मैत्रेयकी भिक्षाविषयक एक सौ बाईसवाँ अध्याय पूरा हुआ

Như vậy kết thúc chương thứ một trăm hai mươi hai, nói về việc Maitreya đi khất thực, thuộc phần Dāna-dharma trong Anuśāsana Parva của Śrī Mahābhārata.

Verse 123

इति श्रीमहा भारते अनुशासनपर्वणि दानधर्मपर्वणि शाण्डिलीसुमनासंवादे त्रयोविंशत्यधिकशततमो<ध्याय:

Như vậy, trong Mahābhārata tôn kính, thuộc Anuśāsana Parva—cụ thể ở phần Dāna-dharma—kết thúc chương thứ một trăm hai mươi ba, dưới hình thức cuộc đối thoại giữa Śāṇḍilī và Sumanas.

Frequently Asked Questions

The tension is between intimate play and cosmic consequence: a private act (covering the eyes) produces public disorder (darkness), requiring authority to intervene responsibly to protect beings.

Power (tejas) is justified by protection and restoration: even when destructive capacity manifests, it is subordinated to re-establishing order and relieving fear, modeling disciplined sovereignty.

No explicit phalaśruti appears in the provided passage; instead, the chapter functions as an etiological prologue, promising causal explanations (hetu) for Śiva’s forms and thereby grounding devotional understanding in narrative reasoning.