Adhyaya 6
Stree ParvaAdhyaya 616 Verses

Adhyaya 6

Adhyāya 6: Vidura’s Saṃsāra-Upamā (The Allegory of the Well, Time, and Desire)

Upa-parva: Vidura–Dhṛtarāṣṭra Saṃsāra-Upamā (Allegory of Saṃsāra) Sub-episode

Dhṛtarāṣṭra opens with a sequence of inquiries framed as compassion: he asks how a person can dwell in harsh conditions, where that perilous ‘dharma-crisis’ place is, and how one might be freed from a great fear. Vidura answers by citing an instructive allegory used by mokṣa-knowers to secure a ‘good course’ beyond. He identifies the ‘wilderness/forest’ as the vast saṃsāra, with predators as diseases and a large-bodied woman as jarā (old age) that erodes beauty and form. The ‘well’ is the embodied condition (deha), with Kāla (Time) as the great serpent beneath—Antaka, the universal taker. The vine on which the human hangs is the hope of continued life; the elephant with six faces is the year, mapped through seasons and months, while the gnawing mice are day and night consuming life. Bees and honey-streams signify desires and their tastes in which humans sink. The chapter concludes: those who understand the turning of the saṃsāra-wheel cut its bonds—knowledge functioning as liberation-oriented agency.

Chapter Arc: धृतराष्ट्र, शोक से व्याकुल, विदुर के ‘संसार-वन’ रूपक को सुनकर चकित होकर पूछते हैं—ऐसा घोर दुःख सहकर भी वह जीव वहाँ कैसे रमता है, और वह देश कहाँ है जहाँ वह धर्मसंकट में फँसा रहता है। → राजा बार-बार उस ‘फँसे हुए ब्राह्मण/जीव’ के उद्धार का उपाय पूछते हैं; करुणा जागती है—‘सब बताओ, हम उसे निकालने का यत्न करेंगे।’ विदुर रूपक के प्रत्येक घटक का अर्थ खोलते जाते हैं, और श्रोता को धीरे-धीरे बोध होता है कि यह कथा किसी दूर देश की नहीं, अपने ही अस्तित्व की है। → विदुर निर्णायक व्याख्या करते हैं: ‘कूप’ देह है; भीतर का महान नाग ‘काल’ है; वृक्ष के पास घूमता षड्वक्त्र कुंजर ‘संवत्सर’ है—उसके छह मुख ऋतुएँ, बारह पाँव महीने; चूहे समय/दिन-रात की क्षय-शक्ति हैं; और सीमा पर खड़ी विशाल नारी ‘जरा’ है जो रूप-वर्ण का विनाश करती है। इस क्षण रूपक का पर्दा हटता है—संसारचक्र का भय और उसकी अनिवार्य गति प्रत्यक्ष हो जाती है। → विदुर बताते हैं कि बुद्धिमान पुरुष इस संसारचक्र की परिक्रमा को जानकर उसके पाश काटते हैं—अर्थात् देह-काल-जरामय बंधन को पहचानकर वैराग्य, विवेक और मोक्षमार्ग की ओर मुड़ते हैं। धृतराष्ट्र का शोक ‘व्यक्ति-हानि’ से उठकर ‘तत्त्व-बोध’ की दिशा में रूपांतरित होने लगता है। → धृतराष्ट्र के भीतर उठता अगला प्रश्न—‘यदि यह सब देह-काल का जाल है, तो शोक का वास्तविक उपचार और मोक्ष का सीधा साधन क्या है?’

Shlokas

Verse 1

अफ्-४#-राज षष्ठो& ध्याय: संसाररूपी वनके रूपकका स्पष्टीकरण ध्ृतराष्ट्र ववाच अहो खलु महद्‌ दु:खं कृच्छुवासश्न॒ तस्य ह | कथं तस्य रतिस्तत्र तुष्टिवां वदतां वर,धृतराष्ट्र बोले--वक्ताओंमें श्रेष्ठ विदुर! यह तो बड़े आश्वर्यकी बात है! उस ब्राह्मणको तो महान्‌ दुःख प्राप्त हुआ था। वह बड़े कष्टसे वहाँ रह रहा था तो भी वहाँ कैसे उसका मन लगता था और कैसे उसे संतोष होता था?

Dhṛtarāṣṭra nói: “Than ôi, đó quả là khổ đau lớn, và việc cư ngụ nơi ấy thật sự gian nan. Hỡi Vidura, bậc thiện thuyết tối thượng, làm sao ông ta vẫn có thể vui thích ở chốn ấy, và làm sao ông ta có thể tìm được sự mãn nguyện ở đó?”

Verse 2

स देश: क्व नु यत्रासौ वसते धर्मसंकटे । कथं वा स विमुच्येत नरस्तस्मान्महाभयात्‌,कहाँ है वह देश, जहाँ बेचारा ब्राह्मण ऐसे धर्मसंकटमें रहता है? उस महान्‌ भयसे उसका छुटकारा किस प्रकार हो सकता है?

Vidura nói: “Vậy miền đất ấy ở đâu, nơi người kia đang sống, mắc kẹt trong một dharma-saṅkaṭa—một cơn khốn đốn của đạo lý? Và làm sao người ấy có thể được giải thoát khỏi nỗi sợ hãi lớn lao ấy?”

Verse 3

एतनमे सर्वमाचक्ष्व साधु चेष्टामहे तदा । कृपा मे महती जाता तस्याभ्युद्धरणेन हि,यह सब मुझे बताओ; फिर हम सब लोग उसे वहाँसे निकालनेकी पूरी चेष्टा करेंगे। उसके उद्धारके लिये मुझे बड़ी दया आ रही है

Vidura nói: “Xin hãy kể cho ta rõ ràng mọi điều. Rồi chúng ta sẽ lập tức dốc hết nỗ lực đúng đắn để đưa ông ấy ra khỏi nơi đó. Quả thật, trong ta đã dấy lên lòng từ mẫn lớn lao vì sự cứu độ của ông ấy.”

Verse 4

विदुर उवाच उपमानमिदं राजन्‌ मोक्षविद्धिरुदाह्तम्‌ । सुकृतं विन्दते येन परलोकेषु मानव:

Vidura nói: “Tâu Đại vương, đây là một ví dụ minh họa được nêu ra để giải thích con đường dẫn đến giải thoát (mokṣa). Ai theo đó sẽ đạt được quả báo của công đức ở các cõi đời sau.”

Verse 5

इस प्रकार श्रीमह्ाभारत स्त्रीपर्वके अन्तर्गत जलप्रदानिकपर्वमें धृतराष्ट्रके शीकका निवारणविषयक पाँचवाँ अध्याय पूरा हुआ,विदुरजीने कहा--राजन! मोक्षतत्त्वके विद्वानोंद्वारा बताया गया यह एक दृष्टान्त है, जिसे समझकर वैराग्य धारण करनेसे मनुष्य परलोकमें पुण्यका फल पाता है ।। उच्यते यत्‌ तु कान्तारं महासंसार एव सः । वन दुर्ग हि यच्चैतत्‌ संसारगहनं हि तत्‌ जिसे दुर्गम स्थान बताया गया है, वह महासंसार ही है और जो यह दुर्गम वन कहा गया है, यह संसारका ही गहन स्वरूप है

Vidura nói: “Tâu Đại vương, những bậc hiền trí am tường chân lý của giải thoát (mokṣa) đã nêu điều này như một ví dụ. Ai hiểu được và nuôi dưỡng tâm ly tham (vairāgya) thì sẽ hưởng quả công đức ở đời sau. Cái được gọi là ‘chốn hoang dã’ kỳ thực chính là vòng luân hồi mênh mông này; còn ‘khu rừng khó vượt’ chẳng gì khác hơn là bụi rậm dày đặc, mê mịt của saṃsāra.”

Verse 6

ये च ते कथिता व्याला व्याधयस्ते प्रकीर्तिता: । या सा नारी बृहत्काया अध्यतिष्ठत तत्र वै,इति श्रीमहाभारते स्त्रीपर्वणि जलप्रदानिकपर्वणि धृतराष्ट्रविशोककरणे षष्ठो5ध्याय:

Vidura nói: “Những nỗi khổ dữ dằn như rắn độc đã kể với Đại vương—chính các chứng bệnh ấy đã được liệt kê rõ ràng. Người đàn bà có hình thể to lớn, đáng sợ ấy quả thật đã đứng trấn tại nơi đó.” Như vậy, trong Mahābhārata, phần Strī Parva, mục Dâng Nước, đoạn nói về việc xua tan sầu khổ của Dhṛtarāṣṭra, chương thứ sáu kết thúc.

Verse 7

यस्तत्र कूपो नृपते स तु देह: शरीरिणाम्‌,नरेश्वर! उस वनमें जो कुआँ कहा गया है, वह देहधारियोंका शरीर है। उसमें नीचे जो विशाल नाग रहता है, वह काल ही है। वही सम्पूर्ण प्राणियोंका अन्त करनेवाला और देहधारियोंका सर्वस्व हर लेनेवाला है

Vidura giải thích với nhà vua rằng “cái giếng” trong khu rừng ấy không phải một hố thật, mà là chính thân phận mang thân—thân thể của mọi loài hữu tình. Con rắn lớn ở đáy giếng là “Thời gian” (tức Tử thần). Chính Thời gian đưa mọi sinh linh đến chỗ tận cùng và cướp đi tất cả những gì kẻ mang thân bám víu. Lời dạy này chuyển người nghe từ hình ảnh bên ngoài về chân lý bên trong: đời sống trong thân xác mong manh, vì thế hãy sống với trí phân biệt và tâm không chấp, luôn nhớ cái chết là điều không thể tránh.

Verse 8

यस्तत्र वसते5धस्तान्महाहि: काल एव सः | अन्तक: सर्वभूतानां देहिनां सर्वहार्यसौ,नरेश्वर! उस वनमें जो कुआँ कहा गया है, वह देहधारियोंका शरीर है। उसमें नीचे जो विशाल नाग रहता है, वह काल ही है। वही सम्पूर्ण प्राणियोंका अन्त करनेवाला और देहधारियोंका सर्वस्व हर लेनेवाला है

Vidura nói: “Con rắn lớn ở nơi sâu thẳm kia không gì khác chính là Thời gian (tức Tử thần). Tâu bậc vương giả của loài người, chính Thời gian trở thành sự tận diệt của mọi hữu tình và cướp đi tất cả của kẻ mang thân.”

Verse 9

कूपमध्ये च या जाता वल्ली यत्र स मानव: । प्रताने लम्बते लग्नो जीविताशा शरीरिणाम्‌,कुँएके मध्यभागमें जो लता उत्पन्न हुई बतायी गयी है, जिसको पकड़कर वह मनुष्य लटक रहा है, वह देहधारियोंके जीवनकी आशा ही है

Dây leo mọc lên giữa lòng giếng—người kia bám vào tua dây lan rộng mà treo lơ lửng—chính là niềm hy vọng sống còn của kẻ mang thân xác, một chỗ nương mong manh giữa hiểm nguy.

Verse 10

स यस्तु कूपवीनाहे तं॑ वृक्ष परिसर्पति । षड्वक्‍त्र: कुज्जरो राजन्‌ स तु संवत्सर: स्मृत:,राजन! जो कुएँके मुखबन्धके समीप छ: मुखों-वाला हाथी उस वृक्षकी ओर बढ़ रहा है, उसे संवत्सर माना गया है

Tâu Đại vương, con voi sáu mặt đang tiến về phía cây, ngay gần miệng giếng—phải hiểu đó chính là “năm”.

Verse 11

मुखानि ऋतवो मासा: पादा द्वादश कीर्तिता: । ये तु वृक्ष निकृन्‍्तन्ति मूषिका: सततोत्थिता:

“Những khuôn mặt” của nó là các mùa; mười hai “bàn chân” của nó được nói là các tháng. Nhưng có những con chuột luôn trỗi dậy, không ngừng gặm nhấm và cắt đổ cây ấy.

Verse 12

ये ते मधुकरास्तत्र कामास्ते परिकीर्तिता:,और जो-जो वहाँ मधुमक्खियाँ कही गयी हैं, वे सब कामनाएँ हैं। जो बहुत-सी धाराएँ मधुके झरने झरती रहती हैं, उन्हें कामरस जानना चाहिये, जहाँ सभी मानव डूब जाते हैं

Vidura nói: “Những ‘con ong’ được nhắc đến ở đó, kỳ thực là dục vọng. Và những dòng mật cứ nhỏ giọt không ngừng, phải hiểu là ‘vị ngọt của ái dục’—thứ men say khiến người đời chìm ngập.”

Verse 13

यास्तु ता बहुशो धारा: स्रवन्ति मधुनिस्रवम्‌ । तांस्तु कामरसान्‌ विद्याद्‌ यत्र मज्जन्ति मानवा:,और जो-जो वहाँ मधुमक्खियाँ कही गयी हैं, वे सब कामनाएँ हैं। जो बहुत-सी धाराएँ मधुके झरने झरती रहती हैं, उन्हें कामरस जानना चाहिये, जहाँ सभी मानव डूब जाते हैं

Vidura giải thích rằng những dòng cứ chảy mãi với mật nhỏ giọt phải được hiểu là những “dòng vị ngọt của dục vọng”—những luồng quyến rũ khiến con người hết lần này đến lần khác chìm xuống và đánh mất chính mình.

Verse 14

एवं संसारचक्रस्य परिवृत्तिं विदुर्बुधा: । येन संसारचक्रस्य पाशांश्छिन्दन्ति वै बुधा:,विद्वान्‌ पुरुष इस प्रकार संसारचक्रकी गतिको जानते हैं, इसीलिये वे वैराग्यरूपी शस्त्रसे इसके सारे बन्धनोंको काट देते हैं

Vì thế, bậc trí giả hiểu rõ sự xoay vần của bánh xe luân hồi; và bởi biết đường đi của nó, họ thật sự chém đứt những thòng lọng của bánh xe ấy—cắt lìa mọi ràng buộc bằng vũ khí ly tham (vô dục) và tuệ giác sáng tỏ.

Verse 66

तामाहुस्तु जरां प्राज्ञा रूपवर्णविनाशिनीम्‌ । जो सर्प कहे गये हैं, वे नाना प्रकारके रोग हैं। उस वनकी सीमापर जो विशालकाय नारी खड़ी थी, उसे विद्वान पुरुष रूप और कान्तिका विनाश करनेवाली वृद्धावस्था बताते हैं

Vidura giải rằng bậc trí nhận ra người đàn bà cao lớn đứng nơi ranh giới của khu rừng ngụ ngôn ấy chính là Jarā—Tuổi Già, sức mạnh hủy hoại dung nhan và sắc diện. Trong khuôn khổ lời răn, bà là dấu mốc của sự suy tàn tất yếu phủ xuống đời sống hữu thân, nhắc người ta phải hành động với tỉnh giác và ly tham trước khi thời gian bào mòn mọi vẻ huy hoàng bên ngoài.

Verse 116

रात्यहानि तु तान्याहुर्भूतानां परिचिन्तका: । छः: ऋतुएँ ही उसके छः मुख हैं और बारह महीने ही बारह पैर बताये गये हैं। जो चूहे सदा उद्यत रहकर उस वृक्षको काटते हैं, उन चूहोंको विचारशील विद्वान प्राणियोंके दिन और रात बताते हैं

Vidura nói bằng ngôn ngữ ngụ ngôn rằng dòng thời gian không ngừng nghỉ đang bào mòn mọi loài hữu thân. Bậc trí gọi hai “con chuột” luôn hoạt động, gặm nhấm cây đời, là ngày và đêm; sáu “khuôn mặt” của cây là sáu mùa, và mười hai “bàn chân” là mười hai tháng. Lời dạy là: đời người bị thời gian mài mòn từng chút, vì vậy hãy tỉnh thức, sống theo dharma với mục đích, chớ buông mình trong lơ là.

Frequently Asked Questions

Dhṛtarāṣṭra’s concern frames the dilemma as how a person can live amid ‘dharma-crisis’ and great fear; Vidura reframes it as the universal predicament of embodied life—how to respond ethically and intelligently to aging, disease, desire, and mortality.

Recognizing the mechanics of saṃsāra—time’s consuming force, the body’s vulnerability, and desire’s intoxicating pull—enables discernment and loosens attachment; knowledge is presented as the means to cut the bonds of cyclic entanglement.

Yes, implicitly: Vidura states that those who know the ‘turning’ of the saṃsāra-wheel cut its snares, indicating a soteriological benefit—understanding this teaching supports liberation-oriented clarity rather than merely narrative information.