Keśinī’s Inquiry to Bāhuka and the Emotional Signs of Concealed Identity (केशिन्याः बाहुकपरीक्षा)
“बाहुक! इस वृक्षपर जितने पत्ते और फल हैं, उन सबको मैं बताता हूँ। पेड़के नीचे जो पत्ते और फल गिरे हुए हैं, उनकी संख्या एक सौ अधिक है, इसके सिवा एक पत्र तथा एक फल और भी अधिक है; अर्थात् नीचे गिरे हुए पत्तों और फलोंकी संख्या वृक्षमें लगे हुए पत्तों और फलोंसे एक सौ दो अधिक है। इस वृक्षकी दोनों शाखाओंमें पाँच करोड़ पत्ते हैं। तुम्हारी इच्छा हो तो इन दोनों शाखाओं तथा इसकी अन्य प्रशाखाओं (को काटकर उन)-के पत्ते गिन लो। इसी प्रकार इन शाखाओंमें दो हजार पंचानबे फल लगे हुए हैं ।। ततो रथमवस्थाप्य राजानं बाहुको<ब्रवीत् । परोक्षमिव मे राजन् कत्थसे शत्रुकर्शन,यह सुनकर बाहुकने रथ खड़ा करके राजासे कहा--“शत्रुसूदन नरेश! आप जो कह रहे हैं, वह संख्या परोक्ष है। मैं इस बहेड़ेके वृक्षको काटकर उसके फलोंकी संख्याको प्रत्यक्ष करूँगा। महाराज! आपकी आँखोंके सामने इस बहेड़ेको का्टूँगा। इस प्रकार गणना कर लेनेपर वह संख्या परोक्ष नहीं रह जायगी। बिना ऐसा किये मैं तो नहीं समझ सकता कि (फलोंकी) संख्या इतनी है या नहीं
bṛhadaśva uvāca | bāhuka! asmin vṛkṣe yāvanti parṇāni phalāni ca santi tāni sarvāṇi te 'haṃ bravīmi | vṛkṣasyādho yāni parṇāni phalāni ca patitāni teṣāṃ saṅkhyā śatādhikā, tataś caikaṃ parṇaṃ caikaṃ phalaṃ cādhikam; arthāt adhaḥpatitānāṃ parṇaphalānāṃ saṅkhyā vṛkṣe sthitānāṃ parṇaphalānāṃ saṅkhyāyāḥ śatadvayādhikā | asya vṛkṣasya ubhayayoḥ śākhayoḥ pañca koṭi parṇāni santi | yadi te 'bhilaṣitaṃ syāt tarhi etā ubhe śākhe anyāś ca praśākhāś chittvā teṣāṃ parṇāni gaṇaya | evaṃ ca etāsu śākhāsu dvi-sahasra-pañca-navati phalāni santi || tataḥ ratham avasthāpya rājānaṃ bāhuko 'bravīt | parokṣam iva me rājan katthase śatrukarśana | ahaṃ imaṃ vibhītaka-vṛkṣaṃ chittvā phalasaṅkhyāṃ pratyakṣīkariṣyāmi | mahārāja! tava cakṣuṣoḥ purataḥ imaṃ vibhītakaṃ chittvā gaṇayitvā parokṣatā na bhaviṣyati | anena vinā na jānāmi satyaṃ vā asatyaṃ vā yathā tvayā proktam iti ||
Bṛhadaśva nói: “Bāhuka, ta có thể nói cho ngươi biết số lượng mọi chiếc lá và mọi trái trên cây này. Lá và quả rụng dưới gốc nhiều hơn một trăm; lại còn hơn nữa một lá và một quả—nghĩa là những gì nằm dưới đất nhiều hơn những gì còn trên cây một trăm lẻ hai. Trên hai cành chính có năm mươi triệu lá. Nếu ngươi muốn, hãy chặt hai cành ấy cùng các nhánh phụ mà đếm lá. Cũng vậy, trên những cành này có hai nghìn không trăm chín mươi lăm trái.” Nghe vậy, Bāhuka cho dừng xe và thưa với nhà vua: “Ôi bậc quân vương hàng phục kẻ thù! Điều ngài nói dường như chỉ là con số biết được một cách gián tiếp. Tôi sẽ đốn cây bibhītaka này để làm cho số trái hiện rõ trước mắt. Ngay trước mắt bệ hạ tôi sẽ hạ cây; khi đã đếm xong, đó sẽ không còn là điều suy đoán. Nếu không làm thế, tôi không thể tin rằng số trái quả thật đúng như lời ngài.”
बृहदश्च उवाच
The passage contrasts indirect claim (parokṣa) with direct verification (pratyakṣa): extraordinary assertions invite testing, and knowledge becomes firm when grounded in demonstrable evidence rather than mere proclamation.
Bṛhadaśva states an exact count of leaves and fruits on a bibhītaka tree, including the excess of fallen items. Bāhuka halts the chariot and challenges the claim, proposing to cut the tree and count the fruits to make the number directly verifiable.