Śrī–Indra–Bali Saṃvāda: The Departure and Fourfold Placement of Lakṣmī
प्रेतीभूते5त्ययश्वैव देवताद्युपपाचनम् । मृते कर्मनिवृत्तिश्न प्रमाणमिति निश्चय:
pretībhūte ’tyayaś caiva devatādy-upapācanam | mṛte karma-nivṛttiś ca pramāṇam iti niścayaḥ ||
Bhīṣma nói: “Sự chuyển tiếp sau khi chết, cũng như chính việc người ta cúng kính các thần linh và những điều tương tự, và việc nghiệp dừng lại khi thân đã chết—đó đều là những chứng cứ quyết định. Từ việc không thấy có ý thức trong một thân xác đã chết, suy ra có một ngã thể/linh thức có tri giác khác với thân; bởi nếu ý thức chỉ là thuộc tính của thân, thì khi thân còn tồn tại một thời gian sau khi chết, ý thức cũng phải còn. Hơn nữa, ngay cả những kẻ phủ nhận điều vô hình vẫn dùng thần chú, trì tụng và các nghi pháp để trừ bệnh hoạn, tai ương bằng cách cầu thỉnh quyền năng thần thánh—tức là ngầm thừa nhận một thực tại vượt ngoài vật chất thô. Và nếu nói rằng ngã thể tiêu vong cùng thân, thì cũng phải chấp nhận rằng các hành nghiệp đã làm bị tiêu diệt, không còn ai thọ nhận quả báo thiện ác, và sẽ dẫn đến kết luận không thể chấp nhận rằng chúng sinh chịu quả của những hành vi chưa từng làm. Vì vậy, sự tồn tại của một tự ngã có tri giác vượt ngoài thân xác được xác lập.”
भीष्म उवाच
Bhīṣma argues that consciousness is not identical with the body: the absence of consciousness in a dead body, the widespread reliance on deity-propitiation even among skeptics, and the need for an experiencer of karmic results together support the existence of an embodied yet body-distinct conscious self (ātman).
In the Śānti Parva’s instruction on dharma and liberation, Bhīṣma continues his philosophical teaching, addressing and refuting materialist (nāstika) views by offering reasoning from experience (death and loss of consciousness), social practice (ritual propitiation), and moral causality (karma and its fruits).