
Chương này trình bày một diễn ngôn thần học theo lộ trình hành hương, mở đầu bằng lời Agastya mô tả các tīrtha phía tây: Ratikunda và Kusumāyudha-kunda. Tại đây quy định tắm (snāna) theo đôi và bố thí để được an lạc, sức khỏe và đạt vẻ đẹp/điềm lành; đặc biệt vào ngày Māgha śukla pañcamī, vợ chồng cùng thờ phụng với hương liệu, y phục, hoa và lễ vật. Tiếp đó chuyển sang Mantreśvara, một nơi thờ liṅga hiếm có gắn với hành trì nghi lễ của Rāma và sự chuẩn bị kỷ luật cho bước thăng tiến; công đức được tán dương mạnh mẽ rằng ai tắm và chiêm bái (darśana) sẽ không còn trở lại luân hồi. Đi về phía bắc, bản văn nêu thêm các điểm: Śītalā (nhấn mạnh lễ bái ngày thứ Hai, hộ trì khỏi bệnh tật và sợ hãi), Devī Bandī (nhờ tưởng niệm và yātrā trọng ngày thứ Ba mà tháo gỡ trói buộc, xiềng xích vương quyền), và Devī Cuḍakī (giúp thành tựu việc còn nghi ngại; dâng đèn và viếng ngày caturdaśī). Chương còn liệt kê Mahāratna tīrtha (yātrā hằng năm vào Bhādrapada kṛṣṇa caturdaśī, bố thí và thức canh), Durbharā/Mahābhara saras (thờ Śiva và các nghi thức tháng Bhādrapada), cùng Mahāvidyā/Siddhapīṭha (yātrā hằng tháng vào aṣṭamī/navamī, trì tụng mantra theo nhiều truyền thống, homa/dāna và thanh tịnh trong Navarātri). Một truyền thuyết trọng tâm Rāma giải thích sự hiển lộ của Dugdhēśvara tại Kṣīra-kuṇḍ và việc đặt tên Sītā-kuṇḍ, hứa ban thanh tịnh và công đức bất hoại nhờ snāna, japa, homa và thờ Sītā–Rāma–Lakṣmaṇa. Kết lại, Vasiṣṭha ca ngợi Ayodhyā là mokṣa-kṣetra tối thượng và nêu phép hành hương nhiều ngày: trai giới, tắm theo thứ tự, chiêm bái thần linh, śrāddha, kính thờ Brāhmaṇa, bố thí và hoàn mãn yātrā đúng nghi.
No shlokas available for this adhyaya yet.