अध्याय ८२ — केशवप्रयाणे निमित्तदर्शनम्
Omens and Reception During Keśava’s Departure
त्वयोच्यमाना: कुरुषु राजमध्ये परंतप । “महामते केशव! जिन्होंने पुरातन देवासुरसंग्रामको भी अपनी आँखोंसे देखा है, वे पुण्यात्मा देवर्षिगण, अनेक शास्त्रोंके विद्वान् ब्रह्मर्षिणण तथा आपका सम्मान करनेवाले तपस्वी राजर्षिगण सम्पूर्ण दिशाओंसे एकत्र हुए भूमण्डलके क्षत्रियनरेशोंको, सभामें बैठे हुए भूपालों-को तथा सत्यस्वरूप आप भगवान् जनार्दनको देखना चाहते हैं। इस परम दर्शनीय वस्तुका दर्शन करनेके लिये ही हम हस्तिनापुरमें चल रहे हैं। शत्रुओंको संताप देनेवाले माधव! वहाँ कौरवों तथा अन्य राजाओंकी मण्डलीमें आपके द्वारा कही जानेवाली धर्म और अर्थसे युक्त बातोंको हम सुनना चाहते हैं | ६६--६८ ह ।। भीष्मद्रोणादयश्वैव विदुरश्ष महामति:
tvayocyamānāḥ kuruṣu rājamadhye parantapa | “mahāmati keśava! ye purātana-devāsura-saṅgrāmaṃ api svacakṣuṣā dṛṣṭavantaḥ, te puṇyātmānaḥ devarṣayaḥ, aneka-śāstra-vidaḥ brahmarṣayaś ca, tava satkāra-kāriṇaḥ tapasvinaḥ rājarṣayaś ca, samantād diśaḥ samāgatā bhūmaṇḍalasya kṣatriya-nṛpān, sabhāyāṃ niṣaṇṇān bhūpālān, satyasvarūpaṃ ca bhagavantaṃ janārdanaṃ draṣṭum icchanti. etasya paramadarśanīyasya vastunaḥ darśanārtham eva vayaṃ hastināpuraṃ gacchāmaḥ. śatrūn santāpayituḥ mādhava! tatra kauravāṇāṃ anyeṣāṃ ca rājñāṃ maṇḍalyāṃ tvayā vaktavyāṃ dharmārtha-yuktāṃ vācam asmābhiḥ śrotum icchāmaḥ.”
Vaiśampāyana nói: “Hỡi kẻ thiêu đốt quân thù! Giữa hội các vua Kuru, người ta đã thưa với ngài những lời này: ‘Hỡi Keśava, bậc đại trí! Các thánh hiền thiên giới—những vị đã tận mắt chứng kiến cuộc chiến cổ xưa giữa chư thiên và a-tu-la—cùng với các Phạm-đạo tiên tri tinh thông nhiều śāstra, và các vương tiên khổ hạnh tôn kính ngài, đã tụ hội từ bốn phương. Họ muốn được thấy các bậc quân vương kṣatriya của cõi đất này đang nhóm họp, các quốc vương ngồi trong đại sảnh, và chính ngài—Đức Janārdana—đấng có bản tính là chân thật. Chính để được chiêm ngưỡng cảnh tượng tối thượng đáng thấy ấy mà chúng ta đang đi đến Hastināpura. Hỡi Mādhava, kẻ làm quân thù khổ não! Ở đó, giữa vòng hội của nhà Kaurava và các vua khác, chúng ta muốn được nghe từ ngài những lời hợp với dharma và artha.’”
वैशम्पायन उवाच
The passage frames Kṛṣṇa’s role as a public moral authority: in a royal assembly, speech should be ‘dharma-artha-yukta’—ethically grounded yet politically practical. The presence of ṛṣis and kings underscores that legitimate governance is accountable to spiritual insight and truth.
Sages and ascetic royal seers from all directions have gathered and are traveling to Hastināpura to witness the great assembly of kings and to see Kṛṣṇa (Janārdana). They also wish to hear Kṛṣṇa’s counsel—words combining dharma and artha—spoken among the Kauravas and other rulers.