Prāyaścitta and Contextual Non-Culpability (प्रायश्चित्त-निमित्त-अदोषवाद)
यदि अपनी स्त्रीके विषयमें पापाचारकी आशड्का हो तो विज्ञपुरुषको रजस्वला होनेतक उनके साथ समागम नहीं करना चाहिये। रजस्वला होनेपर वे उसी प्रकार शुद्ध हो जाती हैं, जैसे राखसे माँजा हुआ बर्तन ।।
vyāsa uvāca | yadi svāṁ striyaṁ viṣaye pāpācārasya āśaṅkā syāt tarhi vijñapuruṣeṇa rajasvalā-bhāva-paryantaṁ tayā saha samāgamo na kartavyaḥ | rajasvalāyāṁ tu sā tathā śuddhā bhavati yathā bhasmanā mārjitaṁ bhājanam || pādajo'cchiṣṭa-kāṁsyaṁ yad gavā prātam athāpi vā | gaṇḍūṣocchiṣṭam api vā viśudhyed daśabhis tu tat ||
Vyāsa nói: Nếu một người đàn ông nghi ngờ vợ mình có hành vi tội lỗi, người biết điều phải không nên giao hợp với nàng cho đến khi nàng có kinh nguyệt. Khi nàng hành kinh, nàng được xem là thanh tịnh—như chiếc bình được chà sạch bằng tro. Cũng vậy, nếu một đồ đựng bằng đồng bị làm ô uế do dính nước rửa chân của một Śūdra, hoặc bị bò liếm, hoặc bị vấy bởi nước súc miệng của ai đó, thì nó trở lại thanh tịnh khi được tẩy rửa bằng mười chất tịnh hóa đã được quy định.
व्यास उवाच
The verse frames purity (śauca) and restraint as part of dharma: when moral suspicion arises, one should refrain from conjugal relations until a socially recognized marker of purification (menstruation) occurs, and it analogizes human purity rules with the ritual cleansing of utensils.
In the didactic setting of Śānti Parva, Vyāsa states prescriptive norms: first about abstaining from intercourse under suspicion until menstruation, then about how a bronze vessel becomes impure through certain contacts and is restored to purity through a tenfold cleansing procedure.