नारद–शुक संवादः (Nārada–Śuka Dialogue): Tyāga, Saṃyama, and Vyakta–Avyakta Viveka
धारणं चैव मनस: प्राणायामश्न् पार्थिव । एकाग्रता च मनस: प्राणायामस्तथैव च
yājñavalkya uvāca | dhāraṇaṃ caiva manasaḥ prāṇāyāmaś ca pārthiva | ekāgratā ca manasaḥ prāṇāyāmas tathaiva ca ||
Yājñavalkya nói: “Hỡi đại vương, ‘dhāraṇā’ là sự cố định tâm vào một điểm chốn nhất định. Khi prāṇāyāma (điều tức) được thực hành cùng với sự cố định ấy, thì được xem là prāṇāyāma thuộc saguṇa (có tướng, có chỗ nương). Nhưng khi không nương vào bất kỳ nơi chốn hay đối tượng nào, mà gom tâm vào định vô chủng (nirbīja samādhi), thì đó gọi là prāṇāyāma thuộc nirguṇa (vô tướng, không chỗ nương).”
याज़्ञवल्क्य उवाच
The verse distinguishes two modes of yogic practice: (1) dhāraṇā—fixing the mind on a specific locus/object—paired with prāṇāyāma as a supported, ‘saguṇa’ discipline; and (2) an unsupported, objectless gathering of the mind into nirbīja samādhi, described as ‘nirguṇa’ prāṇāyāma.
In the Śānti Parva’s instruction on peace and liberation, the sage Yājñavalkya addresses a king and explains technical distinctions in yogic concentration and breath-discipline, guiding the ruler toward inner mastery rather than outward power.