Varṇasaṃkara: Causes, Classifications, and Conduct-based Recognition (वर्णसंकरः—हेतु-जाति-आचारनिर्णयः)
असदेव हि धर्मस्य प्रदानं धर्म आसुर: । नानुशुश्रुम जात्वेतामिमां पूर्वेषु कर्मसु
Bhīṣma uvāca: asad eva hi dharmasya pradānaṃ dharma āsuraḥ | nānuśuśruma jātvetām imāṃ pūrveṣu karmasu | striyaḥ sadā pitā pati vā putrāṇāṃ rakṣaṇeṣuiva tiṣṭhanti, na svatantrā bhavanti | eṣa purātano dharmaḥ | asya dharmasya khaṇḍanaṃ asat-karma vā āsura-dharmaḥ | pūrvakāle vṛddhaiḥ vivāha-kāle kadācit asyā āsuryāḥ paddhateḥ ācaritaṃ na śrutam iti |
Bhīṣma nói: “Đem cho điều không thuộc về mình, ấy thật là phi pháp; đó là thứ ‘dharma’ mang tính A-tu-la. Ta chưa từng nghe rằng các bậc trưởng lão thuở xưa đã làm theo lối ấy trong những việc của họ. Theo trật tự truyền thống, người nữ ở dưới sự che chở của cha, hoặc của chồng, hoặc của các con trai; không được xem là tự chủ. Đó là quy tắc cổ xưa của hạnh kiểm. Phá bỏ quy tắc ấy là hành vi sai trái—một thứ ‘dharma’ A-tu-la. Trong các thời đại trước, ta chưa từng nghe rằng những bậc đáng kính lại dùng phương cách A-tu-la ấy vào lúc hôn phối.”
भीष्म उवाच
Bhishma frames ‘dharma’ as grounded in legitimate authority and inherited tradition: giving away what is not rightfully one’s to give is condemned as ‘asuric dharma,’ and violating established norms is treated as unethical rather than righteous.
In his instruction on conduct (dharma), Bhishma rejects a certain marriage-related practice as illegitimate and contrary to ancestral precedent, appealing to what the elders of earlier times are said to have practiced and transmitted.