Śiva-nāmānukīrtana-prastāvaḥ
Prologue to the praise of Śiva and the Upamanyu testimony
उसने कहा--'प्राणनाथ! आप कल्याण और विजय पानेके लिये जाइये। यदुनन्दन! ब्रह्मा
jāmbavaty uvāca— “prāṇanātha! tvaṃ kalyāṇaṃ vijayaṃ ca prāptuṃ gaccha. yadunandana! brahmā śivaḥ kāśyapo nadyaḥ manonukūlā devagaṇāḥ kṣetrāṇy oṣadhayo yajñavāho (mantraḥ) chandāṃsi ṛṣigaṇā yajñaḥ samudro dakṣiṇā stobhaḥ nakṣatrāṇi pitaraḥ grahā devapatnyaḥ devakanyāś ca devamātaraś ca manvantarāṇi gāvaś candramāḥ sūrya indraḥ sāvitrī brahmavidyā ṛtavo varṣāṇi kṣaṇā lava-muhūrta-nimeṣā yugāni ca—ete sarvatra tvāṃ rakṣantu. tvaṃ svamārge nirvighnaṃ yātrāṃ kuru; anagha! tvaṃ satataṃ sāvadhāno bhava.” iti. evaṃ kṛtasvastyayanas tayāhaṃ tato ’bhyanujñāya nṛrendraputrīm pituḥ samīpaṃ narasattamasya mātuś ca devakyāḥ tathā rājña ugrasenasyāpi jagāma. tatra yā sā vidyādhararājakumārī jāmbavatī mayi ārtā prārthayām āsa, tat sarvaṃ tebhyo nyavedayam; tapasāṃ gantum anuśaśāsaṃ ca. gadasya ca balavato balarāmasya ca vidāṃ cakāra; tau ca duḥkhena premṇā ca tadā mām ūcatuḥ— “bhrātaḥ! tava tapasā nirvighnā samāptiḥ syāt.”
Jāmbavatī thưa: “Phu quân yêu dấu! Xin hãy lên đường để đạt được phúc lành và chiến thắng. Hỡi niềm vui của dòng Yadu, nguyện Brahmā, Śiva, Kaśyapa, các dòng sông, chư thiên thuận ý, các thánh địa, thảo dược linh diệu, kẻ mang lễ tế—tức các thần chú—cùng các thể Veda, các bậc ṛṣi, chính lễ tế, đại dương, lễ vật dâng (dakṣiṇā), những stobha trong Sāman ca, các tinh tú, các Tổ phụ, các hành tinh, các phu nhân của chư thiên, các tiên nữ và các Mẫu thần, các Manvantara, đàn bò, Mặt Trăng, Mặt Trời, Indra, Sāvitrī, tri kiến về Brahman, các mùa, các năm, và mọi thước đo thời gian—khoảnh khắc, sát-na, muhūrta, cái chớp mắt, và các thời đại—đều hộ trì cho chàng khắp mọi nơi. Xin chàng đi trên đường mình không chướng ngại; hỡi người vô tì vết, hãy luôn tỉnh thức.” Sau khi nàng đọc lời chúc phúc ấy, ta từ biệt công chúa rồi đến gặp phụ thân cao quý Vasudeva, mẫu thân Devakī và vua Ugrasena. Ta thuật lại tất cả điều công chúa Vidyādhara Jāmbavatī đã khẩn cầu ta trong cơn thống khổ, và xin phép họ cho ta lên đường tu khổ hạnh. Ta cũng cáo biệt Gada và Balarāma dũng mãnh; hai người, buồn thương mà đầy tình thâm, nói với ta: “Hiền đệ, nguyện khổ hạnh của đệ được viên mãn, không gặp trở ngại.”
वासुदेव उवाच
The passage emphasizes auspicious speech and ritual blessing (svastyayana) as ethical support for righteous action: one should proceed toward a difficult duty with divine remembrance, communal goodwill, and constant vigilance (sāvadhāna), seeking protection through alignment with cosmic and Vedic order.
Jāmbavatī offers an extensive protective benediction invoking deities, ritual elements, and cosmic measures of time. After receiving her leave, Vāsudeva (Kṛṣṇa) goes to his parents Vasudeva and Devakī and to King Ugrasena, reports Jāmbavatī’s distressed request, and obtains permission to depart for austerities; he then takes leave of Gada and Balarāma, who wish his tapas to conclude without obstacles.