
Worship of the Nine Vyūhas (Nava-vyūha-arcana)
Chương này mở đầu bằng việc xác nhận kết thúc Dīpadāna-vrata, rồi chuyển ngay sang nghi quỹ kỹ thuật về thờ phụng Navavyūha do Hari truyền dạy. Agni giảng cách lập maṇḍala hoa sen: Vāsudeva ở trung tâm, các vị Saṅkarṣaṇa, Pradyumna, Aniruddha và Nārāyaṇa an vị theo phương hướng, gắn với các âm tiết bīja và các vị trí thuộc yếu tố/nghi lễ (kể cả chỗ đặt nước). Nghi thức được mở rộng với bản đồ mantra–bīja cho các hình tướng liên hệ như Sadbrahmā, Viṣṇu, Nṛsiṃha, Bhūr-Varāha, cùng các an vị phụ ở cửa và phương Tây, kèm thủ tục chuyên biệt liên quan Garuḍa và các mantra của gadā (chùy). Trình tự đi từ dựng maṇḍala bên ngoài đến nội quán: thờ theo daśāṅga-krama, đặt các ghaṭa cho hộ thần phương vị, quán tưởng toraṇa và vitāna, và thiền thân vi tế trong cam lộ nguyệt. Kết thúc bằng nyāsa với mười hai bīja để thành “thân thần”, chương còn nêu cách nhận định đệ tử qua nghi thức tung hoa, số lần homa để tịnh hóa, và phí dīkṣā—xem sự nhập môn như dấu ấn xã hội và tâm linh của khoa nghi lễ.
No shlokas available for this adhyaya yet.
A lotus-maṇḍala Navavyūha worship beginning with Vāsudeva at the center, followed by directional deity placements with specific bīja-syllables, then internalization through visualization, daśāṅga-krama, and nyāsa culminating in dīkṣā.
After mandala and mantra placements, it shifts to subtle-body contemplation (lunar nectar), self-identification with Viṣṇu, and nyāsa that produces a “divine body,” explicitly valuing heart-worship of Hari (anirmālyā) as the inner completion of the rite.
Disciples are seated to the left, identify a chosen form by blind flower-casting, perform homa with 108 and then 1000 oblations for purification, and receive dīkṣā after payment of prescribed fees honoring the guru.