
Chapter 184 — अष्टमीव्रतानि (Aṣṭamī Observances: Kṛṣṇāṣṭamī, Budhāṣṭamī/Svargati-vrata, and Mātṛgaṇa-Aṣṭamī)
Agni dạy Vasiṣṭha các lời nguyện (vrata) xoay quanh ngày Aṣṭamī, kết hợp sự chính xác lịch pháp, khổ hạnh thân thể, lòng sùng kính Śiva và bổn phận nghi lễ xã hội. Mở đầu là Mātṛgaṇa-Aṣṭamī: thờ các Mẫu thần bắt đầu từ Brahmāṇī vào Kṛṣṇāṣṭamī tháng Caitra, hứa ban phú quý và được dự phần vào thế giới của Kṛṣṇa. Tiếp đến là Kṛṣṇāṣṭamī-vrata kéo dài một năm, khởi từ tháng Mārgaśīrṣa: nhịn ăn kiểu nakta (chỉ ăn ban đêm), tẩy tịnh nghi lễ, ngủ trên đất, và chuỗi thờ Śiva theo từng tháng (Śaṅkara/Śambhu/Maheśvara/Mahādeva/Sthāṇu/Paśupati/Tryambaka/Īśa), kèm các quy định ẩm thực khắc khổ (nước tiểu bò, bơ sữa ghee, sữa, mè, lúa mạch, lá bilva, cơm… ). Kết thúc bằng homa, pūjā maṇḍala, đãi brāhmaṇa và bố thí (bò, y phục, vàng), đem lại cả hưởng phúc (bhukti) lẫn giải thoát (mukti). Trường hợp đặc biệt là Budhavāra-Aṣṭamī (Svargati-vrata) được nói là cho địa vị Indra: dâng lượng gạo theo chuẩn trong vật đựng bằng lá xoài cùng cỏ kuśa, thờ phụng thanh tịnh (sāttvika), nghe kể pháp thoại và cúng dường dakṣiṇā. Câu chuyện minh chứng về gia đình Dhīra, con bò đực Vṛṣa, mất rồi lại được, cảnh giới Yama và quả báo giữ Budhāṣṭamī hai lần cho thấy năng lực cứu độ—đưa tổ tiên từ địa ngục lên thiên giới. Chương khép lại với nghi thức uống chồi aśoka vào ngày Punarvasu và lời cầu nguyện Aṣṭamī trừ sầu khổ, tái khẳng định rằng thờ Mẫu thần từ tháng Caitra trở đi sẽ thắng kẻ thù.
No shlokas available for this adhyaya yet.
A year-linked discipline starting in Mārgaśīrṣa with nakta-fasting and purification, followed by month-specific Śiva-worship names and corresponding dietary austerities, concluding with homa, maṇḍala worship, feeding brāhmaṇas, and dāna (cow, garments, gold).
When Aṣṭamī coincides with Wednesday in either fortnight it is termed Svargati-vrata; the text assigns it a specific offering protocol (measured rice preparation, mango-leaf vessel with kuśa, sāttvika pūjā, kathā-śravaṇa, and dakṣiṇā) and promises attainment of Indra’s station.
By combining austerity (niyama), purity (śauca), devotion (Śiva/Mātṛ worship), narrative-hearing, and charity (dāna) into a complete sādhanā, it explicitly states the attainment of both bhukti and mukti and illustrates salvific efficacy through the liberation of ancestors from naraka.
Prosperity, victory over enemies through Mātṛ-pūjā on Aṣṭamī, sorrow-removal via the Aśoka rite, and restoration of fortune/standing through proper rule-keeping and sanctioned dāna.