Adhyaya 321
Mantra-shastraAdhyaya 3213 Verses

Adhyaya 321

Pāśupata-Śānti (पाशुपतशान्तिः)

Chương này mở đầu bằng việc xác định rằng nội dung tiếp nối một śānti-kalpa trước đó về Aghora và các astra liên hệ, rồi bắt đầu chỉ dạy Pāśupata-Śānti. Đức Chúa dạy nghi thức trấn an (śānti) lấy vũ khí–mantra Pāśupata làm trung tâm, khởi từ japa và các ứng dụng chuẩn bị. Điểm kỹ thuật then chốt là trình tự vận hành của mantra: việc phá chướng ngại được thực hiện từ “bàn chân/vị trí đặt ban đầu” (pādatas-pūrva), gợi một cách triển khai có cấu trúc như nyāsa hoặc theo phương hướng. Văn bản tiếp đó liệt kê một chuỗi ngắn các lời thỉnh astra kết thúc bằng “phaṭ”, gồm yếu tố astra của Mặt Trời, Mặt Trăng và Vighneśvara, kèm các động từ nghi lễ dạng mệnh lệnh: làm rối loạn, che giấu, nhổ tận gốc, làm khiếp sợ, phục hồi, xua đuổi, diệt trừ điềm xấu. Hiệu lực được định lượng: tụng một lần trừ chướng; tụng một trăm lần xua điềm gở và ban thắng lợi trong chiến trận. Cuối cùng, chương dạy làm homa với bơ ghee và nhựa guggulu để thành tựu cả mục tiêu khó, và kết luận rằng trì tụng Śastra-Pāśupata đem lại sự an tịnh viên mãn.

Shlokas

Verse 1

इत्य् आग्नेये महापुराणे अघोरास्त्रादिशान्तिकल्पे नाम विंशत्यधिकत्रिशततमो ऽध्यायः व्यालकाके इति ख अथैकविंशत्यधिकत्रिशततमो ऽध्यायः पाशुपतशान्तिः ईश्वर उवाच वक्ष्ये पाशुपतास्त्रेण शान्तिजापादि पूर्वतः पादतःपूर्वनाशो हि फडन्तं चापदादिनुत्

Như vậy, trong Agni Mahāpurāṇa, chương mang tên “Śānti-kalpa về Aghora-vũ khí và các pháp khác” là chương thứ ba trăm hai mươi (trong một số bản truyền có ghi chú “vyāla-kāke”). Nay bắt đầu chương thứ ba trăm hai mươi mốt, “Pāśupata-Śānti”. Đức Chúa phán: “Ta sẽ giảng nghi thức trấn an bằng thần chú vũ khí Pāśupata—khởi đầu với japa cầu śānti và các phần chuẩn bị liên hệ. Quả thật, sự tiêu trừ chướng ngại trước hết được thực hiện từ ‘bàn chân’ (phần đầu/sự an trí); và thần chú kết thúc bằng tiếng kêu ‘phaḍ’ được áp dụng để trừ tai ách và các điều tương tự.”

Verse 2

रास्त्राय फट् भास्करास्त्राय फट् चन्द्रास्त्राय फट् विघ्नेश्वरास्त्राय फट् ख्रों ख्रौं फट् ह्रौं ह्रों फट् भ्रामय फट् छादय फट् उन्मूलय फट् त्रासय फट् सञ्जीवय फट् विद्रावय फट् सर्वदुरितं नाशय फट् सकृदावर्तनादेव सर्वविघ्नान् विनाशयेत् शतावर्तेन चोत्पातान्रणादौ विजयो भवेत्

“Kính dâng đến Astra hộ vệ—phaṭ! Đến Nhật-Astra—phaṭ! Đến Nguyệt-Astra—phaṭ! Đến Vighneśvara-Astra—phaṭ! khroṃ khrauṃ—phaṭ! hrauṃ hroṃ—phaṭ! Làm cho rối loạn—phaṭ! Che phủ—phaṭ! Nhổ tận gốc—phaṭ! Khiếp sợ—phaṭ! Hồi sinh—phaṭ! Xua đuổi—phaṭ! Diệt mọi điều bất tường—phaṭ!” Chỉ một lần tụng đã phá trừ mọi chướng ngại; tụng một trăm lần thì ngăn các điềm dữ, và trong chiến trận v.v. sẽ phát sinh thắng lợi.

Verse 3

घृतगुग्गुलुहोमाच्च असाध्यानपि साधयेत् पठनात्सर्वशान्तिः स्यच्छस्त्रपाशुपतस्य च

Nhờ cúng tế hỏa (homa) với bơ tinh luyện (ghee) và nhựa guggulu, người ta có thể thành tựu cả điều bị xem là bất khả; và nhờ tụng đọc Thánh chú Śastra–Pāśupata, sự an tức hoàn toàn (dập tắt khổ não và chướng ngại) cũng được đạt đến.

Frequently Asked Questions

The chapter emphasizes operational sequencing and force-termination: obstacle-destruction is applied from the initial ‘feet’ placement, and the mantra is repeatedly ended with “phaṭ” to effect protective, expelling, and pacifying functions.

By framing protection, obstacle-removal, and pacification as dharma-supporting disciplines, it stabilizes the practitioner’s life and ritual environment, enabling sustained sādhanā while aligning worldly safety (bhukti) with spiritual steadiness (mukti-oriented practice).