Tīrtha-yātrā: Phalaśruti and Sacred Geography from Lohitya to Prayāga
Pulastya’s Instruction
राजेन्द्र! वहाँसे फलकीवन नामक उत्तम तीर्थकी यात्रा करे। राजन्! देवतालोग फलकीवनमें सदा निवास करते हैं और अनेक सहस वर्षोतक वहाँ भारी तपस्यामें लगे रहते हैं। भारत! दृषद्वतीमें स्नान करके देवता-पितरोंका तर्पण करनेसे मनुष्य अग्निष्टोम और अतितरात्र यज्ञोंका फल पाता है। भरतसत्तम राजेन्द्र! सर्वदेवतीर्थमें स्नान करनेसे मानव सहस्र गोदानका फल पाता है। भारत! पाणिखाततीर्थमें स्नान करके देवता-पितरोंका तर्पण करनेसे मनुष्य अग्निष्टोम और अतिरात्रयज्ञोंसे मिलनेवाले फलको प्राप्त कर लेता है; साथ ही वह राजसूययज्ञका फल पाता एवं ऋषिलोकमें जाता है ।। ततो गच्छेत राजेन्द्र मिश्रकं तीर्थमुत्तमम् । तत्र तीर्थानि राजेन्द्र मिश्रितानि महात्मना,राजेन्द्र! तत्पश्चात् परम उत्तम मिश्रकतीर्थमें जाय। महाराज! वहाँ महात्मा व्यासने द्विजोंके लिये सभी तीर्थोका सम्मिश्रण किया है; यह बात मेरे सुननेमें आयी है। जो मनुष्य मिश्रकतीर्थमें स्नान करता है, उसका वह स्नान सभी तीर्थोर्में स्नान करनेके समान है
rājendra! vahāṁse phalakīvana nāmaka uttama tīrthakī yātrā kare. rājan! devatāloga phalakīvanemeṁ sadā nivāsa karate haiṁ aura aneka sahasra varṣotaka vahāṁ bhārī tapasyāmeṁ lage rahate haiṁ. bhārata! dṛṣadvatīmeṁ snāna karake devatā-pitaroṁkā tarpaṇa karanese manuṣya agniṣṭoma aura atirātra yajñoṁkā phala pātā hai. bharatasattama rājendra! sarvadevatīrthameṁ snāna karanese mānava sahasra godānaka phala pātā hai. bhārata! pāṇikhātātīrthameṁ snāna karake devatā-pitaroṁkā tarpaṇa karanese manuṣya agniṣṭoma aura atirātrayajñoṁse milanevāle phalako prāpta kara letā hai; sātha hī vaha rājasūyayajñaka phala pātā evaṁ ṛṣilokameṁ jātā hai. tato gacchet rājendra miśrakaṁ tīrtham uttamam. tatra tīrthāni rājendra miśritāni mahātmanā. rājendra! tatpaścāt param uttama miśrakatīrthameṁ jāya. mahārāja! vahāṁ mahātmanā vyāsane dvijoṁke liye sabhī tīrthoṁkā sammiśraṇa kiyā hai; yaha bāta mere sunanemeṁ āyī hai. yo manuṣya miśrakatīrthameṁ snāna karatā hai, usakā vaha snāna sabhī tīrthoṁmeṁ snāna karaneke samāna hai.
Ghulastya nói: “Muôn tâu chúa tể các vua, từ đây ngài hãy đi đến bến thánh tối thắng mang tên Phalakīvana. Tâu Đại vương, chư thiên thường trú nơi ấy, và suốt nhiều nghìn năm vẫn chuyên cần khổ hạnh nghiêm mật. Hỡi Bhārata, ai tắm ở sông Dṛṣadvatī và dâng lễ rưới nước cho các thần cùng tổ tiên thì được công đức của tế lễ Agniṣṭoma và Atirātra. Hỡi bậc tối thượng trong dòng Bharata, ai tắm tại Sarvadeva-tīrtha sẽ được quả phúc như bố thí một nghìn con bò. Hỡi Bhārata, ai tắm tại Pāṇikhāta-tīrtha và làm thỏa lòng thần linh cùng tổ tiên bằng lễ cúng, sẽ đạt quả của Agniṣṭoma và Atirātra; lại còn được công đức của Rājasūya và lên đến cõi các Ṛṣi. “Rồi nữa, hỡi vua của các vua, hãy đến Miśraka-tīrtha tối thượng. Ở đó, tâu Đại vương, người ta truyền rằng bậc đại hồn Vyāsa đã quy tụ—đặc biệt vì lợi ích của hàng ‘nhị sinh’—uy lực của mọi bến thánh. Ai tắm ở Miśraka, chỉ một lần tắm ấy cũng được xem như đã tắm ở tất cả các tīrtha.”
घुलस्त्य उवाच
The passage teaches that disciplined pilgrimage—ritual bathing and offerings to gods and ancestors—functions as a dharmic substitute for costly Vedic sacrifices and large-scale charity, making spiritual merit accessible through sincere practice and proper rites.
Ghūlastya guides the king through a sequence of sacred sites (Phalakīvana, Dṛṣadvatī, Sarvadeva-tīrtha, Pāṇikhāta, and Miśraka), describing the specific merits gained at each. He culminates by praising Miśraka as a ‘combined’ tīrtha, said to contain the efficacy of all tīrthas due to Vyāsa’s sanctifying act.