Ruru–Ḍuṇḍubha Saṃvāda: Śāpa, Mokṣa, and Ahiṃsā-Upadeśa
Chapter 11
क्षन्तुमर्हसि मे ब्रह्मनू शापो5यं विनिवर्त्यताम् | सो<थ मामब्रवीद् दृष्टवा भृशमुद्धिग्नचेतसम्,तपोधन! मैं उसकी तपस्याका बल जानता था, अतः मेरा हृदय अत्यन्त उद्विग्न हो उठा और बड़े वेगसे उसके चरणोंमें प्रणाम करके, हाथ जोड़, सामने खड़ा हो, उस तपोधनसे बोला--सखे! मैंने परिहासके लिये सहसा यह कार्य कर डाला है। ब्रह्मन! इसके लिये क्षमा करो और अपना यह शाप लौटा लो। मुझे अत्यन्त घबराया हुआ देखकर सम्भ्रममें पड़े हुए उस तपस्वीने बार-बार गरम साँस खींचते हुए कहा--“मेरी कही हुई यह बात किसी प्रकार झूठी नहीं हो सकती”
kṣantum arhasi me brahman u śāpo 'yaṃ vinivartyatām | so 'tha mām abravīd dṛṣṭvā bhṛśam uddhigna-cetasam ||
Ḍuṇḍrubha nói: “Bạch Bà-la-môn, xin hãy tha thứ cho tôi; xin hãy thu hồi lời nguyền này.” Rồi, thấy lòng tôi rối bời kinh hãi, vị ấy liền nói với tôi. Cảnh ấy nêu bật sức nặng đạo lý của lời nói: một hành động bột phát chỉ để đùa cợt có thể khơi dậy phản ứng nghiêm trọng; và một lời thốt ra như lời thệ hay lời nguyền từ một bậc khổ hạnh thì không dễ gì rút lại.
डुण्ड्रुभ उवाच
Words, especially those spoken with ascetic authority, carry moral and practical force. A careless act done in jest can trigger serious consequences, and repentance may not undo what has been formally uttered; hence restraint (saṃyama) and accountability in speech are central to dharma.
Ḍuṇḍrubha, frightened by the ascetic’s reaction, begs the Brahmin to forgive him and retract the curse. The ascetic, seeing his agitation, responds—setting up the idea that a pronounced curse or statement cannot simply be made false.