काम्येष्टिपशुविधान-प्रपाठकः (देवतारूप-नियोजनम्)
TS 2.1 functions as a modular catalogue of kāmya applications, mapping desired outcomes (bhūti, grāma, prajā, anna, brahmavarcasa, victory, release from constraints) to devatā-alignment and offering-typology. The text repeatedly encodes a ritual-logic: the sacrificer ‘approaches’ (upadhāvati) the devatā with its ‘own share’ (svena bhāgadheyena), thereby transferring the devatā’s cosmic capacity into the sacrificer’s social and bodily sphere. Several anuvākas organize offerings by color/form as semiotic carriers of tejas/ruci (solar brilliance), prāṇa/apāna (vital polarity), and ahorātra (day-night generativity). The prapāṭhaka also embeds expiatory and restorative patterns (prāyaścitti motifs) and competitive/agonistic frames (spardhā, saṃgrāma), indicating its calendrical role as a decision-tree for selecting rite-variants across seasons and life-situations. In Shrauta geometry, it reads as a ‘routing layer’ connecting altar-space actions to macrocosmic correspondences.
Mantra 1
असाव् आदित्यो न व्य् अरोचत । तस्मै देवाः प्रायश्चित्तिम् ऐच्छन् । तयैवास्मिन् रुचम् अदधुः । ब्रह्मवर्चसकामः स्यात् । तस्मा एतां सौरीं श्वेतां वसाम् आ लभेत । अमुम् एवादित्यं स्वेन भागधेयेनोप धावति । स एवास्मिन् ब्रह्मवर्चसं दधाति । ब्रह्मवर्चस्य् एव भवति । बैल्वो यूपो भवति । असौ ॥
Khi ấy Āditya (Mặt Trời) không tỏa sáng. Các thần đã tìm một nghi thức chuộc lỗi (prāyaścitti) cho ngài; nhờ chính nghi thức ấy họ ban lại ánh sáng cho ngài. Nếu có người mong brahmavarcas (quang lực Phạm), người ấy nên lấy lễ vật mỡ trắng thuộc về Mặt Trời này mà hiến tế. Người ấy, bằng phần phần của chính mình, tiến đến Mặt Trời kia; và chính Mặt Trời ấy đặt brahmavarcas vào nơi người ấy. Người ấy trở thành kẻ có brahmavarcas. Cột tế làm bằng gỗ bailva; (Mặt Trời) kia —
Mantra 2
वा आदित्यो यतो ऽजायत ततो बिल्व उद् अतिष्ट्ʰअत् सयोन्य् एव ब्रह्मवर्चसम् अव रुन्द्द्ʰए ब्राह्मणस्पत्याम् बब्ʰरुकर्णीम् आ लब्ʰएताब्ʰइचरन् वारुणं दसकपालम् पुरस्तान् निर् वपेत् वरुणेनैव ब्ʰरात्र्व्यं ग्राहयित्वा ब्रह्मणा स्त्र्णुते बब्ʰरुकर्णी ब्ʰअवति एतद् वै ब्रह्मणो रूपम् सम्र्द्द्ʰयै स्प्ʰयो यूपो ब्ʰअवति वज्रो वै स्प्ʰयो वज्रम् एवास्मै प्र हरति सरमयम् बर्हिः स्र्णाति
Hoặc người ta nói: nơi nào thần Āditya (Mặt Trời) sinh ra, từ nơi ấy cây bilva (bilva) đứng dậy mọc lên. Nhờ vật ‘cùng một bào thai’, người ấy giành được hào quang của Phạm (brahmavarcas). Người ấy nên lấy con bò cái ‘tai nâu’ (babhrukarṇī) thuộc về Brahmaṇaspati (Bṛhaspati). Nếu muốn làm phép hại (abhicāra), thì ở phía trước nên dâng lễ mười bát (daśakapāla) cho Varuṇa. Chính nhờ Varuṇa khiến kẻ thù (bhrātṛvya) bị bắt giữ, và nhờ Phạm (brahman) mà trải (cỏ tế). Người ấy trở thành ‘kẻ tai nâu’; đó thật là hình tướng của Phạm. Vì sự thịnh vượng, phải có sphya (sphya, xẻng/mai đào đất) và cột tế yūpa (yūpa). Sphya quả là vajra (kim cang), người ấy giáng vajra cho người này. Người ấy trải cỏ tế barhis (barhis) thuộc về Saramā (saramaya).
Mantra 3
एवैनम् वैभीदक इध्मो भिनत्त्य् एवैनम् वैष्णवं वामनम् आ लभेत यं यज्ञो नोपनमेत् विष्णुर् वै यज्ञस् विष्णुम् एव स्वेन भागधेयेनोप धावति स एवास्मै यज्ञम् प्र यच्छति उपैनं यज्ञो नमति वामनो भवति वैष्णवो ह्य् एष देवतया समृद्ध्यै त्वाष्ट्रं वडबम् आ लभेत पशुकामस् त्वष्टा वै पशूनाम् मिथुनानाम्
Củi vaibhīdaka này quả thật làm ông bị tách rời. Người mà tế lễ không đến gần thì nên lấy Vāmana (người lùn) thuộc về Viṣṇu làm lễ vật. Vì Viṣṇu chính là tế lễ. Người ấy nhờ phần phần lễ của mình mà đến gần Viṣṇu, và chính Viṣṇu ban tế lễ cho người ấy; tế lễ cúi về phía người ấy và đến gần người ấy. Người ấy trở thành Vāmana, vì đây là lễ vật của Viṣṇu. Lại nữa, để sự hưng thịnh của thần linh, nên lấy con ngựa cái (vaḍabā) thuộc về Tvaṣṭṛ làm lễ vật; người mong có gia súc nên làm như vậy, vì Tvaṣṭṛ là chủ của các đôi (đực–cái) nơi gia súc.
Mantra 4
प्रजनयिता त्वष्टारम् एव स्वेन भागधेयेनोप धावति । स एवास्मै पशून् मिथुनान् प्र जनयति । प्रजा हि वा एतस्मिन् पशवः प्रविष्टाः । अथैष पुमान् सन् वडभः साक्षाद् एव प्रजां पशून् अव रुन्द्धे । मैत्रं श्वेतम् आ लभेत । संग्रामे संयत्ते समयकामस् । मित्रम् एव स्वेन भागधेयेनोप धावति । स एवैनं मित्रेण सं नयति ॥
Đấng làm cho sinh sản tiến đến Tvaṣṭṛ (thần thợ cả) bằng phần đáng hưởng của mình (bhāgadheya). Chính vị ấy khiến cho gia súc sinh ra thành từng đôi cho người này. Vì con cháu quả đã đi vào trong đó như là gia súc. Do vậy, tuy là giống đực nhưng lại là ngựa giống (vaḍabha). Người ấy trực tiếp thu được con cháu và gia súc. Ai mong thắng lợi khi chiến trận đã được dàn sẵn, nên lấy ‘vật trắng thuộc Mitra’ (maitra śveta). Người ấy tiến đến Mitra bằng phần đáng hưởng của mình; và Mitra dẫn người ấy đến sự hòa hợp nhờ chính Mitra (tình hữu hảo).
Mantra 5
विसालो भवति व्यवसाययत्य् एवैनम् । प्राजापत्यं कृष्णम् आ लभेत वृष्टिकामः । प्रजापतिर् वै वृष्ट्या ईषे । प्रजापतिम् एव स्वेन भागधेयेनोप धावति । स एवास्मै प्रजन्यं वर्षयति । कृष्णो भवति । एतद् वै वृष्ट्यै रूपम् । रूपेणैव वृष्टिम् अव रुन्द्धे । सबलो भवति । विद्युतम् एवास्मै जनयित्वा वर्षयति । अवासृङ्गो भवति । वृष्टिम् एवास्मै नि यच्छति ॥
Ông trở nên rộng lớn; ông khiến (việc ấy) được thành tựu. Người mong mưa nên lấy (lễ vật) màu đen thuộc về Prajāpati mà dâng. Prajāpati quả thật chi phối mưa. Người ấy nhờ phần phần lễ của mình mà đến gần Prajāpati, và Prajāpati khiến mưa đổ xuống cho người ấy. Nó là màu đen—đó chính là hình tướng của mưa; bằng hình tướng mà giành được mưa. Người ấy trở nên có sức mạnh—Ngài làm phát sinh tia chớp rồi khiến mưa rơi cho người ấy. Người ấy trở nên không sừng—Ngài giữ/kiềm chế mưa cho người ấy.
Read Krishna Yajur Veda in the Vedapath app
Scan the QR code to open this directly in the app, with audio, word-by-word meanings, and more.